Giáo án Ngữ văn 12 tích hợp NLS Học kì 1

Tải về
Lớp: Lớp 12
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Giáo án
Bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống

Giáo án Ngữ văn 12 tích hợp năng lực số

Giáo án Ngữ văn 12 tích hợp NLS Học kì 1 được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, đồng thời lồng ghép năng lực số (NLS) vào các hoạt động đọc hiểu, viết, nói và nghe. Giáo án Ngữ văn 12 giúp giáo viên thuận tiện thiết kế bài dạy sinh động, khai thác học liệu số và công cụ công nghệ phù hợp, qua đó khuyến khích học sinh chủ động tiếp nhận, phân tích và vận dụng kiến thức Ngữ văn.

Mô tả tài liệu: File tải về bao gồm mẫu giáo án Ngữ văn lớp 12 tích hợp năng lực số của các bài học trong học kì 1 từ bài 1 đến bài 5. 

Lưu ý: Phần tích hợp năng lực số sẽ được lựa chọn vào các phần phù hợp trong kế hoạch dạy học, không phải bài nào cũng tích hợp giống nhau.

Giáo án chỉ mang tính chất tham khảo.

Kế hoạch bài dạy Ngữ văn 12 tích hợp NLS

BÀI 1: KHẢ NĂNG LỚN LAO CỦA TIỂU THUYẾT

I. MỤC TIÊU CHUNG

1. Về kiến thức:

- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của tiểu thuyết hiện đại như: ngôn ngữ, diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật...

- Phân tích được đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật, các chi tiết tiêu biểu và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm tiểu thuyết; phân tích và đánh giá được sự phù hợp của người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.

2. Về năng lực:

- Nhận biết được những đặc điểm cơ bản của phong cách hiện thực trong tiểu thuyết và trong sáng tác văn học nói chung.

- Nhận biết và phân tích được đặc điểm, tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ.

- Viết được văn bản nghị luận, so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

- Biết trình bày (dưới hình thức nói) kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

*Tích hợp phát triển năng lực số:

1.1.NC1b Áp dụng được kỹ thuật tìm kiếm để lấy được dữ liệu, thông tin và nội dung trong môi trường số.

1.1.NC1d Tự đề xuất được chiến lược tìm kiếm.

1.2.NC1a Thực hiện đánh giá được độ tin cậy và độ tin cậy của các nguồn dữ liệu, thông tin và nội dung số.

1.2.NC1b Tiến hành đánh giá được các dữ liệu, thông tin và nội dung số khác nhau.

2.1.NC1a Sử dụng được nhiều công nghệ số để tương tác.

2.2.NC1a Chia sẻ dữ liệu, thông tin và nội dung số thông qua nhiều công cụ số phù hợp

3.1.NC1a Áp dụng được các cách tạo và chỉnh sửa nội dung ở các định dạng khác nhau,

4.2.NC1a Áp dụng được các cách thức khác nhau để bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số.

5.3.NC1a Áp dụng được các công cụ và công nghệ số khác nhau để tạo ra kiến thức cũng như các quy trình và sản phẩm đổi mới.

3. Về phẩm chất: Biết xây dựng các chuẩn mực giá trị trong cuộc sống; hiểu và đồng cảm với những nỗi buồn thể hiện nhân tính và khát vọng hướng tới sự hoàn thiện của con người.

B. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY

Tiết 1, 2, 3:

ĐỌC VĂN BẢN 1: “ XUÂN TÓC ĐỎ CỨU QUỐC”

(Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng)

I. MỤC TIÊU

1. Về kiến thức:

- HS nhận biết và phân tích được một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại trên các phương diện: khả năng bao quát hiện thực đời sống; góc độ quan sát, thể hiện nhân vật và hệ thống sự kiện, cách miêu tả nét đặc thù của ngôn ngữ nhân vật… thể hiện qua đoạn trích.

- Học sinh nhận biết và phân tích được tính chất trào phúng, giá trị hiện thực của tiểu thuyết “Số đỏ” thể hiện qua đoạn trích

- Học sinh nhận biết và phân tích được hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp nói mỉa, nghịch ngữ trong đoạn trích

2. Về năng lực:

- Vận dụng được những kĩ năng sau khi học xong văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” để đọc hiểu những văn bản cùng thể loại và thực hiện nhiệm vụ thực tiễn

- Phát triển năng lực ngôn ngữ.

- Hình thành năng lực làm việc nhóm, năng lực gợi mở…

- Phát triển khả năng tự chủ, tự học qua việc đọc và hoàn thiện phiếu học tập ở nhà.

*Tích hợp phát triển năng lực số:

1.1.NC1b HS tìm kiếm và thu thập tài liệu, thông tin về tác giả Vũ Trọng Phụng, về tiểu thuyết Số đỏ (bối cảnh xã hội, giá trị hiện thực, nghệ thuật trào phúng) và ý nghĩa nhan đề đoạn trích "Xuân Tóc Đỏ cứu quốc" để chuẩn bị bài.

1.2.NC1a HS sàng lọc và đánh giá độ tin cậy của các nguồn thông tin về tiểu thuyết Số đỏ (ví dụ: phân biệt giữa nguồn học thuật chính thống như sách giáo khoa, bài nghiên cứu của nhà phê bình với các nguồn thông tin trên mạng xã hội, các blog cá nhân).

4.2.NC1a Học sinh ghi rõ nguồn tài liệu (tên sách, tên tác giả, đường link trang web) khi hoàn thành phiếu học tập hoặc slide trình chiếu; không chia sẻ mật khẩu khi dùng chung nền tảng học tập trực tuyến.

3. Về phẩm chất: HS có thái độ phê phán tình trạng loạn chuẩn khi đánh giá các hiện tượng đời sống và nhìn nhận con người, hướng tới việc xây dựng một môi trường xã hội lành mạnh.

II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU

1. Thiết bị dạy học: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, bảng, máy tính, máy chiếu, một số tư liệu ảnh, video clip liên quan đến tác giả Vũ Trọng Phụng, phiếu học tập.

2. Học liệu: SGK, SGV Ngữ văn 12, tập một, Tiểu thuyết “Số đỏ”, tài liệu, tranh ảnh liên quan tác giả, tác phẩm…

III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1. Tổ chức

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Bài mới:

HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG

a. Mục tiêu: HS biết được các nội dung cơ bản của bài học cần đạt được, tạo tâm thế đọc hiểu văn bản “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”.

b. Nội dung: HS dựa vào hiểu biết để trả lời câu hỏi: Hiểu biết của em về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng

c. Sản phẩm: Chia sẻ của HS về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

d. Tổ chức thực hiện: GV cho HS chia sẻ cảm nhận về tiểu thuyết “Số đỏ” và nhận xét về câu trả lời của HS. Từ chia sẻ của HS, GV dẫn dắt vào bài học mới.

Hoạt động của GV và HS

Dự kiến sản phẩm

B1. Chuyển giao nhiệm vụ: GV cho HS xem video giới thiệu về tiểu thuyết “Số đỏ”:

https://www.youtube.com/watch?v=KiUaMDTiOXY

- GV đặt câu hỏi gợi mở: Em hãy nêu hiểu biết của mình về tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.

B2. Thực hiện nhiệm vụ: HS lắng nghe yêu cầu của GV

B3. Báo cáo thảo luận: GV mời một số HS trả lời câu hỏi

B4. Đánh giá kết quả thực hiện:

GV nhận xét, kết luận:

- ““Số đỏ”” là một tác phẩm để đời cho bao thế hệ - một tác phẩm sẽ mãi là vật báu vô giá trong nền văn học Việt Nam. Vâng, đó là một đóng góp hết sức to lớn của nhà văn với “cái nghèo gia truyền” - Vũ Trọng Phụng cho kho tàng văn chương dân tộc.

- Tiểu thuyết ““Số đỏ”” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu năm 1938. Tác phẩm nổi tiếng này đã được chuyển thể thành nhiều phim và kịch. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của “ông vua phóng sự đất Bắc”. ““Số đỏ”” xoay quanh nhân vật làm đảo điên Hà Nội những năm 1930 - 1940, Xuân Tóc Đỏ - từ một thằng bé mồ côi, kiếm sống bằng đủ thứ nghề: trèo me, trèo sấu, nhặt bóng ở sân quần vợt, quảng cáo thuốc lậu... nhờ thủ đoạn xảo trá, “nhờ thời” đã trở thành đốc tờ Xuân, nhà cải cách xã hội, giáo sư quần vợt, thậm chí là anh hùng cứu quốc, là vĩ nhân... Sử dụng lối tương phản giữa cái đồi bại, thối nát vô luân với cái hài, cái trào phúng đã giúp cuốn tiểu thuyết thành công trong việc lột trần những “quái thai” thời đại trong buổi giao thời. Từ đó, tác phẩm cũng đã đả kích cay độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đang chạy theo lối sống văn minh rởm, hết sức lố lăng thối nát. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đả kích những phong trào được thực dân khuyến khích như: Phong trào Âu hoá, thể dục thể thao, chấn hưng Phật giáo... Sự thành công của tác giả còn ở việc đã xây dựng được những nhân vật trở thành điển hình về mặt tâm lý xã hội mà cho đến tận hôm nay bóng dáng những nhân vật ấy vẫn còn đâu đó quanh ta. Tiêu biểu đoạn trích “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc”

- ““Số đỏ”” là một tác phẩm để đời sẽ mãi là vật báu vô giá của nền văn học Việt Nam. Là một đóng góp hết sức to lớn của nhà văn Vũ Trọng Phụng cho kho tàng văn chương dân tộc.

- Tiểu thuyết này được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7/10/1936 và được in thành sách lần đầu năm 1938 và được chuyển thể thành nhiều phim và kịch. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của “ông vua phóng sự đất Bắc”.

HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

Nội dung 1: TÌM HIỂU TRI THỨC NGỮ VĂN

a. Mục tiêu: Học sinh nhận biết được thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ.

Nội dung: HS đọc tìm hiểu phần tri thức ngữ văn trong SGK và trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung của thể loại tiểu thuyết hiện đại; Phong cách hiện thực trong sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng; Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ.

Sản phầm: Câu trả lời của học sinh

Tổ chức thực hiện

Hoạt động của GV và HS

Dự kiến sản phẩm

B1. Chuyển giao nhiệm vụ

GV cho HS tự đọc phần tri thức ngữ văn trong SGK trong thời gian 3 phút

B2. Thực hiện nhiệm vụ:

- HS đọc phần tri thức ngữ văn trong SGK. HS trả lời một số câu hỏi và yêu cầu mang tính gợi mở của GV như:

- Em đã từng học, đọc những tiểu thuyết nào? Qua những tác phẩm ấy, em hiểu được gì về thể loại tiểu thuyết?

- Nêu cách hiểu của em về mệnh đề sau đây: Tiểu thuyết dành sự chú ý đặc biệt cho đời tư hay số phận của con người cá nhân. Để hiểu rõ đặc điểm đó của tiểu thuyết, em có thể so sánh tiểu thuyết với thể loại nào đã được học?

- Nêu một vài căn cứ theo hiểu biết của em để chứng minh rằng tiểu thuyết có rất nhiều dạng thức, thể hiện nhiều hướng phát triển, tìm tòi khác nhau.

- Theo em, người biên soạn SGK muốn nhắm tới điều gì khi đặt tên cho bài học là “Khả năng lớn lao của tiểu thuyết”? Nêu những điều mà tiểu thuyết có thể làm được trong khả năng của nó.

- Em hiểu thế nào về vấn đề: Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp cao mọi kinh nghiệm nghệ thuật của các thể loại văn học khác?

- Cắt nghĩa nguyên nhân khiến tiểu thuyết thường đưa tới cho độc giả cảm giác “chân thật”.

- Em đã biết gì về những cuộc bình chọn nhằm xác định “Những tiểu thuyết Việt Nam hay nhất”, “Những tiểu thuyết nổi tiếng nhất mọi thời đại của văn học thế giới”?

 

- Phong cách hiện thực là gì? So sánh trong tương quan đối lập với các thể loại khác?

*Tích hợp phát triển năng lực số:

1.1.NC1b Học sinh sử dụng công cụ tìm kiếm (Google, thư viện số,...) để thu thập dữ liệu về tác giả/tác phẩm, video phân tích hoặc các bài viết học thuật liên quan.

- Thế nào là biện pháp tu tử nói mỉa và nghịch ngữ?

- Nói mỉa và nghịch ngữ có mối quan hệ như thế nào với nhau?

B3. Báo cáo thảo luận:

GV mời HS trả lời câu hỏi theo định hướng các câu hỏi trên

B4. Đánh giá kết quả thực hiện:

HS nắm được kiến thức, hiểu và nhận diện được một số đơn vị kiến thức cơ bản sẽ sử dụng trong tìm hiểu văn bản và thực hành tiếng việt, viết bài văn.

A. TÌM HIỂU TRI THỨC NGỮ VĂN

I. Tiểu thuyết hiện đại

- K/n: Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự, là một hình thức cụ thể của truyện hay truyện kể.

- Tiểu thuyết có dung lượng lớn (phân biệt với truyện ngắn, truyện vừa), có thể “phản ánh” được hiện thực ở quy mô rộng, bao quát nhiều cảnh đời, nhiều số phận, đề cập nhiều sự kiện xảy ra trong thời gian dài và ở các không gian khác nhau.

- Tiểu thuyết tiếp cận hiện thực chủ yếu từ góc độ đời tư, dành sự quan tâm đặc biệt đến số phận con người cá nhân. Ở điểm này, tiểu thuyết thường được đưa ra so sánh với sử thi, một hình thức tự sự xuất hiện từ thời cổ đại, ưu tiên thể hiện những vấn đề lớn của cộng đồng.

– Tiểu thuyết có thể được viết bằng văn xuôi hoặc văn vần. Tuy nhiên, không phải tác phẩm truyện thơ nào cũng có thể được nhìn nhận là tiểu thuyết, nếu trong đó, câu chuyện về con người cá nhân và một số vấn đề cơ bản khác thuộc về kết cấu, ngôn ngữ, sự phối hợp các điểm nhìn,… không được thể hiện nổi bật. Trên vấn đề này, có cơ sở để xem Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin (Yevgeny Onegin) của Pu-skin (Pushkin), Truyện Kiều của Nguyễn Du,… là tiểu thuyết - thơ.

- Khả năng lớn lao của tiểu thuyết:

+ Tiểu thuyết có thể bao quát được bức tranh đời sống rộng lớn với đủ thành phần xã hội và các sự kiện chằng chéo, phức tạp (điều này thể hiện rõ trong đoạn trích Số đỏ).

+ Tiểu thuyết có thể đi sâu khám phá những bí mật của tâm hồn con người, soi tỏ cả những điều có thể xem là dị thường, tưởng chừng không thể giải thích (điều này có thể được chứng thực qua đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh).

+ Tiểu thuyết giúp người đọc hiểu rõ tính toàn vẹn của đời sống và khơi dậy ý thức tôn trọng những cách diễn giải, đánh giá khác nhau đối với những gì đã hoặc sẽ diễn ra trong đời sống nhân loại.

II. Phong cách hiện thực trong sáng tác văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng

- Phong cách hiện thực là khái niệm có phạm vi sử dụng khá rộng và nội hàm thường biến động trong các ngữ cảnh khác nhau. Nó biểu thị nỗ lực khái quát của các nhà lí luận, phê bình về một kiểu tiếp cận và thể hiện nghệ thuật đối với đời sống mang tính chất trực diện, khách quan; gạt bỏ mọi ảo tưởng, ngộ nhận; từ chối sự tô vẽ, “mĩ hoá”;… Theo đó, khái niệm này thường được đặt trong thế đối lập với khái niệm phong cách lãng mạn – một khái niệm biểu thị kiểu tiếp cận và thể hiện nghệ thuật mang tính chất ngược lại: coi trọng cái chủ quan; ít quan tâm logic vận động khách quan của sự vật, sự việc; ưa sử dụng bút pháp lí tưởng hoá;… Khái niệm phong cách hiện thực không chỉ được dùng để gọi tên phong cách sáng tác của các nghệ sĩ theo chủ nghĩa hiện thực (một trào lưu văn học, nghệ thuật phát triển mạnh mẽ ở phương Tây trong khoảng thời gian từ những năm 30 của thế kỉ XIX sang đến đầu thế kỉ XX) mà còn được dùng để chỉ phong cách sáng tác của một số nhà văn, nhà thơ thuộc các thời đại và khu vực văn hoá, văn học khác, khi họ đề cao nguyên tắc sáng tác bám sát những gì thực sự diễn ra trong đời sống. Chính vì vậy, Đỗ Phủ (sống vào thời Đường ở Trung Quốc) có thể được xem là nhà thơ có phong cách hiện thực, phân biệt và đối trọng với Lý Bạch (nhà thơ cùng thời) có phong cách lãng mạn.

III. Biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ

- Nói mỉa được hiểu là một phương thức ngôn ngữ đặc biệt dùng để diễn đạt sự đánh giá "chênh" đi, thậm chí có khi còn ngược lại so với sự thật cần đánh giá. Chính vì thế ngôn ngữ ở đây bao giờ cũng mang sắc thái biểu cảm rõ nét, và thường là thái quá. Người ta thường nhận được những câu quá khen, hoặc chê thậm tệ; hoặc cũng có khi lẽ ra phải khen thì lại chê, phải chê thì lại khen; và đặc biệt lại có cả những câu tưởng chừng phi lý; Trong khẩu ngữ, nói mỉa thường thể hiện bằng sự kéo dài hay nhấn mạnh giọng nói. Đôi khi có kèm theo cả sự thay đổi nét mặt, cử chỉ, dáng điệu... ở người nói. Người nghe thường nhận ngay ra cái dáng vẻ của ngôn ngữ mỉa mai, giễu cợt.

- Nghịch ngữ là biện pháp tu từ, theo đó, người nói (người viết) sử dụng trong cùng một câu hoặc một đoạn văn những từ ngữ hoặc câu có nghĩa trái ngược nhau nhằm tạo ra cách nói nghịch lí, bất ngờ để thể hiện được đúng nhận xét về đối tượng được nói đến.

=> Giữa nói mỉa và nghịch ngữ có sự nhập nhằng nhất định vì khi nói mỉa, người ta có thể sử dụng nghịch ngữ. Trong khí quyển của nói mỉa, một nghịch ngữ đôi khi bị đồng hoá, khiến người ta không còn cho đó là nghịch ngữ nữa. Sự thực, cần phân định rõ: nói mỉa không phải là một đơn vị ngôn ngữ mà là một cơ chế tạo lời nhằm tạo ra sự mâu thuẫn giữa phần hiển ngôn và phần hàm ngôn

Tham khảo thêm

PowerPoint Địa lí 12 Kết nối tri thức - Kì 1

PowerPoint Địa lí 12 Kết nối tri thức - Kì 2

Giáo án tích hợp NLS, AI các khối lớp

Mời các bạn tham khảo thêm tài liệu - giáo án khác trên chuyên mục Giáo án lớp 12 của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1
Giáo án Ngữ văn 12 tích hợp NLS Học kì 1
Chọn file tải về :
Hỗ trợ Zalo
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi

Tải nhanh tài liệu

Giáo án Ngữ văn 12 tích hợp NLS Học kì 1

Ưu đãi đặc biệt
Hỗ trợ Zalo