Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học lớp 7 CTST

Lập dàn ý và viết đoạn mở bài phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học là nội dung đề số 3 trang 116 sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 tập 2 Chân trời sáng tạo bài Ôn tập học kì 2. Sau đây là mẫu dàn ý phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học cùng với một số mẫu bài viết phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học lớp 7 CTST, mời các bạn cùng tham khảo.

Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học

1. Dàn ý viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một văn bản truyện mà em đã học

a. Mở bài

- Nêu tên nhân vật em lựa chọn.

- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm xuất hiện nhân vật em lựa chọn.

- Nêu ấn tượng về nhân vật

b. Thân bài

Phân tích đặc điểm nhân vật.

* Giới thiệu khái quát về nhân vật

- Sự xuất hiện.

- Tên nhân vật, hình dáng, đặc điểm ngoại hình.

* Đặc điểm của nhân vật

- Các chi tiết miêu tả nhân vật, hành động nhân vật.

- Ngôn ngữ của nhân vật.

- Những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật.

- Mối quan hệ của nhân vật với các nhân vật khác.

c. Kết bài

Đánh giá về nhân vật.

2. Dàn ý phân tích đặc điểm nhân vật Dế mèn

1. Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác phẩm và nhân vật: Dế Mèn

2. Thân bài:

*Phân tích đặc điểm của nhân vật:

- Ngoại hình:

+ "Chàng Dế thanh niên cường tráng"

+ "Đôi càng tôi mẫm bóng", "Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt".

+ "Hai cái răng đen".

=> Dế Mèn rất khỏe mạnh, cường tráng.

- Hành động, tính cách:

+ Tự tin, yêu đời, luôn tự hào về bản thân.

+ Kiêu ngạo, bốc đồng, dám trêu chọc chị Cốc, gây ra cái chết cho Dế Choắt.

* Bài học rút ra qua tác phẩm:

+ Sống là phải khiêm tốn, luôn quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh.

+ Khi mắc lỗi cần biết nhận sai và sửa lỗi.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại ấn tượng về nhân vật.

3. Mở bài phân tích đặc điểm nhân vật Dế mèn

Tô Hoài là nhà văn sớm bước vào đời, vào nghề và cũng sớm tham gia hoạt động Cách mạng. Ông viết ở nhiều thể loại và đạt được vô vàn thành công. Tiêu biểu cho sáng tác của Tô Hoài phải kể đến "Dế Mèn phiêu lưu kí". Đây là tác phẩm văn học thiếu nhi được đọc nhiều ở Việt Nam và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong đó, đoạn trích "Bài học đường đời đầu tiên" được trích từ chương I của tập truyện đã để lại cho bạn đọc ấn tượng sâu đậm về hình ảnh Dế mèn kiêu căng, ngạo mạn.

4. Mở bài phân tích đặc điểm nhân vật Đan kô

Em đã đọc rất nhiều câu chuyện hay và ý nghĩa: đó là hình ảnh cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám, là anh Khoai trong truyện Cây tre trăm đốt hay là giáo sư A-rô-nắc trong truyện Dòng sông đen, ông Quơn-cơ trong “Xưởng socola”,...Nhưng có lẽ nhân vật để lại nhiều ấn tượng với em nhất chính là nhân vật Đan-kô trong văn bản “Trái tim Đan-kô” của Mác-xim Go-rơ-ki. Đây là một nhân vật anh hùng để lại nhiều suy nghĩ trong em.

5. Phân tích đặc điểm nhân vật Sơn trong Gió lạnh đầu mùa

Thạch Lam thường viết “những truyện không có chuyện”, chủ yếu là khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày. Một trong những tác phẩm của ông là truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa. Nổi bật trong tác phẩm là nhân vật Sơn.

Truyện được in trong tập truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” (NXB Đời nay, 1937). Sơn là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, được nhà văn xây dựng để gửi gắm những tư tưởng nhân văn sâu sắc.

Mở đầu truyện, Thạch Lam đã có những câu văn miêu tả tinh tế về sự thay đổi của thời tiết. Từ đó, nhân vật Sơn xuất hiện với những suy nghĩ, hành động hồn nhiên của một đứa trẻ. Cậu tung chăn tỉnh dậy, cậu thấy mọi người trong nhà, mẹ và chị đã trở dậy, ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Mọi người đều “đã mặc áo rét cả rồi”. Ở ngoài sân “Gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Bầu trời không u ám, toàn một màu trắng đục”. Những cây lan trong chậu “lá rung động và hình như sắt lại vì rét”. Nhân vật Sơn thức giấc và cảm nhận được cái lạnh, cậu vơ vội cái chăn trùm lên đầu rồi gọi chị Lan. Sau đó, Sơn được mẹ mặc cho một chiếc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại mặc phủ cái áo vải thâm. Qua cách giới thiệu này, có thể thấy Sơn được sinh ra trong một gia đình khá giá, nhận được tình yêu thương của mọi người xung quanh.

Sống trong sự chăm sóc của mẹ và chị, nhưng Sơn không kiêu ngạo và xa cách. Cậu sống rất giàu tình cảm, biết yêu thương mọi người xung quanh. Điều đó được thể hiện qua tình cảm với người em gái đã mất. Khi mọi người nhắc đến Duyên - đứa em gái đáng thương của Sơn đã mất năm lên bốn tuổi. Người vú già đã “với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía, tay mân mê các đường chỉ”. Sơn cũng cảm thấy “nhớ em, cảm động và thương em quá”. Cậu xúc động khi thấy mẹ “hơi rơm rớm nước mắt”. Những suy nghĩ, cảm xúc ấy cho thấy Sơn là một cậu bé nhạy cảm, giàu lòng thương người. Hay như cách cư xử của Sơn với bọn trẻ con trong xóm - Thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc - những đứa trẻ em nghèo khổ vẫn phải mặc những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Hai chị em Sơn tỏ ra thân thiết với chúng chứ không khinh khỉnh như các em họ của Sơn.

Đặc biệt nhất là hành động của Sơn đối với bé Hiên. Khi thấy Hiên đang đứng “co ro” bên cột quán, trong gió lạnh chỉ mặc có manh áo “rách tả tơi”, “hở cả lưng và tay”. Sơn cảm thấy thương xót cho con bé. Sơn chợt nhớ ra mẹ cái Hiên rất nghèo, nhớ đến em Duyên ngày trước vẫn cùng chơi với Hiên ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt thoáng qua trong tâm trí Sơn - đó là đem chiếc áo bông cũ của em Duyên cho Hiên. Nghĩ vậy, cậu đã nói với chị gái của mình, nhận được sự đồng tình của chị. Chị Lan đã “hăm hở” chạy về nhà lấy áo. Còn Sơn thì đứng yên lặng đợi chờ, trong lòng tự nhiên thấy “ấm áp vui vui”. Cảm xúc ấy cho thấy ý nghĩa của sự chia sẻ đem đến sự hạnh phúc cho cả người nhận và người cho. Có thể thấy rằng, nhân vật Sơn tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đã giàu lòng yêu thương.

Qua nhân vật này, nhà văn đã gửi gắm bài học về tình yêu thương, cũng như tấm lòng nhân ái, biết chia sẻ và đồng cảm của con người trong cuộc sống.

6. Phân tích đặc điểm nhân vật Cô bé bán diêm

Tác phẩm Cô bé bán diêm của nhà văn Andersen đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người đọc và đem đến cảm giác đồng cảm vô hạn với số phận bi thương của cô bé bán diêm và cả tác giả.

Câu chuyện về cô bé bán diêm đầy đau thương, từ những lời đầu tiên đã làm cho người đọc cảm thấy xót xa. Bà và mẹ em đã qua đời, để lại một mình em sống trong căn gác tối tăm, chật hẹp cùng với người bố khó tính, luôn mắng chửi em. Em phải mang phong diêm đi bán mỗi đêm, dù có nhà nhưng không dám về vì sợ bị cha mắng. Trong những đêm giá rét, cô bé phải trải qua gió và mưa tuyết, đánh đổi bằng cả cuộc đời để kiếm sống. Sự vô tâm, thiếu tình thương của người cha đã khiến cho cô bé bất hạnh phải sống trong sự cô đơn và khổ đau.

Trong ngày cuối năm, mọi người đều quây quần bên gia đình ấm áp, chỉ riêng cô bé lại đứng đầu trần chân đất, lang thang trên đường với giá rét và tuyết phủ. Những ngôi nhà trang hoàng ánh đèn lấp lánh, không khí ấm áp của mùa đông đang lan tỏa khắp nơi, còn cô bé thì đi khắp nơi mà không thể bán được một cây diêm nào. Sự tương phản đó không chỉ nhấn mạnh sự thiếu thốn vật chất của cô bé, mà còn ám chỉ đến sự mất mát và cô đơn về mặt tinh thần.

Trong cái giá rét của mùa đông, cô bé dũng cảm quẹt từng que diêm để sưởi ấm cơ thể. Hình ảnh ngọn lửa diêm gợi lên nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đầu tiên, ngọn lửa diêm xua tan cái lạnh lẽo, tăm tối để cô bé có thể quên đi những bất hạnh, cay đắng của cuộc đời. Ngọn lửa diêm đã thắp sáng những giấc mơ đẹp đẽ, những khao khát mãnh liệt, đem đến thế giới tưởng tượng với niềm vui, hạnh phúc. Đó còn là ánh sáng của hy vọng về cuộc sống gia đình hạnh phúc, được sống trong tình yêu thương của cha mẹ, ông bà. Hình ảnh ngọn lửa diêm như con thuyền đầy tinh thần nhân văn của tác giả, thể hiện sự đồng cảm, trân trọng những ước mơ giản dị, kỳ diệu của trẻ thơ.

Mỗi khi quẹt diêm, cô bé tội nghiệp được trải nghiệm giây phút hạnh phúc, rơi vào thế giới cổ tích, trốn thoát khỏi thực tại tăm tối. Lần quẹt diêm đầu tiên, cô bé thấy một cái lò sưởi, bởi vì đêm đông lạnh giá em cần được sưởi ấm. Khi que diêm tắt, lò sưởi biến mất và nỗi sợ hãi mơ hồ tràn về "sẽ bị cha mắng khi về đến nhà đêm nay". Cô bé lại dũng cảm quẹt diêm lần thứ hai, lần này em thấy một bàn ăn đầy thịnh soạn, sự tưởng tượng hài hước của cô bé cho thấy rằng mong muốn lớn nhất của cô bé vào thời điểm đó là được ăn no. Trong đêm giao thừa, tất cả các gia đình đều quây quần bên mâm cỗ ấm áp, trong khi đó cô bé lại đói bụng đi lang thang trong cái lạnh. Những chi tiết này gợi lên sự xúc động sâu sắc đến người đọc, tạo ra những ảo tưởng và niềm đau khó chịu.

Trong lần quẹt diêm thứ ba, trong không khí se lạnh của đêm Giáng sinh, cô bé nhìn thấy hình ảnh của cây thông. Cây thông là biểu tượng của mái ấm gia đình hạnh phúc, là những giấc mơ trong sáng của tuổi thơ. Lần quẹt thứ tư, trong tình trạng đói rét và cô đơn, cô bé khao khát được yêu thương và chỉ có bà là người yêu thương cô bé nhất. Trong giây phút đó, bà hiện ra thật ấm áp và đẹp đẽ. Cô bé khẩn cầu bà đưa mình đi cùng vì cô bé hiểu rằng khi ngọn lửa diêm tắt đi thì bà cũng sẽ biến mất. Ước nguyện của cô bé thật đáng thương, cô bé muốn được che chở, được yêu thương và chăm sóc. Lần cuối cùng, cô bé quẹt hết những que diêm còn lại để có thể nhìn thấy bà và thật kỳ lạ, ước nguyện cuối cùng của cô bé đã trở thành hiện thực.

Sau khi đến một thế giới khác, em không còn phải chịu những đòn roi, lời mắng nhiếc, sự đói rét và nỗi buồn nữa. Cô bé đã trở nên trong sáng và ngây thơ trong mắt người khác nhờ vào những giấc mơ tưởng của mình. Em không oán trách ai vì bị bỏ rơi trong đói rét, thay vào đó, tâm hồn em đầy nhân hậu và tốt bụng. Em là một cô bé giàu ước mơ và tình yêu thương, vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn của mình. Những ước mơ đó vô cùng giản dị và lãng mạn, đầy diệu kì.

7. Phân tích đặc điểm nhân vật Dế mèn phiêu lưu kí

Truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” là một tác phẩm ấn tượng và phổ biến của nhà văn Tô Hoài, dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Câu chuyện kể về cuộc hành trình phiêu lưu đầy mạo hiểm của Dế Mèn qua nhiều miền đất của các loài vật khác nhau, đem lại cho độc giả nhiều trải nghiệm thú vị và lôi cuốn. Chương đầu tiên của truyện, “Bài học đường đời đầu tiên”, đã tả chi tiết ngoại hình và tính cách của Dế Mèn, cũng như khám phá những bài học quý giá trong cuộc đời của nhân vật chính.

Tại đoạn văn này, nhà văn đã giới thiệu chi tiết về Dế Mèn ngay từ phần mở đầu. Dế Mèn là một chú dế khỏe mạnh, cường tráng và có phương pháp sống khoa học: "Tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi lớn nhanh lắm", "chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng". Với sự tinh tế, sự giàu trí tưởng tượng và kĩ lưỡng, Tô Hoài đã mô tả chi tiết về hình dáng của một chàng dế thanh niên đẹp và sống động: thân hình cường tráng, đôi chân mẫm bóng, những vuốt ở chân và ở khoeo cứng và nhọn hoắt "chỉ cần chạm qua thì những ngọn cỏ đã ngã rạp xuống"...

Dế Mèn luôn tự tin và điềm đạm, khiến mỗi bước đi của cậu trở nên uy nghiêm và đầy tự tin, như dáng điệu của "con nhà võ". Tác giả không chỉ miêu tả hình dáng bên ngoài của Dế Mèn mà còn đào sâu vào tính cách của chú dế này, để người đọc cảm nhận được rằng một chú dế nhỏ bé cũng có nhiều tính cách khác nhau. Dế Mèn là một chú dế tự tin, yêu đời và luôn kiêu hãnh vì vẻ ngoài và sức mạnh của mình. Tuy nhiên, sự tự hào quá đỗi của tuổi trẻ đã khiến cho Dế Mèn trở nên kiêu căng, tự đắc và xấc láo.

Dế Mèn sử dụng sức mạnh của mình để làm khó hàng xóm, không phải để giúp đỡ. Dù hàng xóm chỉ là nhường nhịn, nhưng Dế Mèn lại tin rằng họ sợ mình, không ai dám đối đầu. Bản thân Dế Mèn càng tự phụ và coi mình là "một tay ghê gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi". Nhưng bản tính tự cao, kiêu căng, và ngông cuồng của Dế Mèn lại dẫn đến một hậu quả đau lòng - sự mất mát của Dế Choắt, người bạn hàng xóm đã đánh đổi cả mạng sống để cảnh tỉnh Dế Mèn về thái độ của mình.

Khác hoàn toàn với Dế Mèn, Dế Choắt có bộ dạng ốm yếu, không có sức sống và sức lao động. Mặc dù là hàng xóm của nhau, nhưng Dế Mèn chỉ biết chê bai và khinh thường, không quan tâm đến những yêu cầu giúp đỡ của Dế Choắt. Ý tưởng ghẹo chị Cốc đã nảy ra trong tâm trí ngông cuồng của Dế Mèn, và anh ta đã mời Dế Choắt tham gia, nhưng Dế Choắt lại sợ hãi và không dám thực hiện, bị kìm hãm bởi sự do dự.

Sau khi trêu chị Cốc, Dế Mèn đã lẩn trốn vào hang sâu của mình. Tuy nhiên, không ngờ rằng người bị chị Cốc bắt lại lại là Dế Choắt - một kẻ gầy gò, yếu đuối, không có sức sống và không có sức lao động. Dế Mèn đã đẩy Dế Choắt vào mọi hậu quả từ trò đùa dại dột của mình. Chỉ khi Dế Choắt thoi thóp, Dế Mèn mới hối hận và nhận ra lỗi của mình. Tuy vậy, cũng nhờ có Dế Choắt, Dế Mèn đã được học một bài học quý giá: "Nếu bạn có thói quen hung hăng, bậy bạ và không biết suy nghĩ, thì sớm muộn bạn sẽ chịu hậu quả vì những hành động của mình."

Nhà văn Tô Hoài đã sử dụng nghệ thuật miêu tả tài tình và bút pháp nhân hóa so sánh tinh tế để tái hiện chân dung sống động của một chú dế. Không chỉ vậy, ông còn truyền đạt những bài học sâu sắc trong cuộc sống, như tôn trọng khiêm tốn, giúp đỡ người khác, và biết sửa chữa lỗi lầm khi mắc phải.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 7 thuộc chuyên mục Học tập của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
2 1.378
0 Bình luận
Sắp xếp theo