Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của một màn kịch

Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của một màn kịch mà bạn đã học hoặc đã đọc là nội dung đề số 2 thuộc bài Viết văn bản nghị luận phân tích đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch trang 83, 84 sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 2 Chân trời sáng tạo. Sau đây là một số bài văn mẫu nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của một màn kịch, mời các bạn cùng tham khảo.

Đối với dạng đề trên đây, các em có thể tham khảo các tác phẩm sau:

Kịch: Xã trưởng – Mẹ Đốp (trích Quan Âm Thị Kính, chèo cổ); Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lõm Thị Hến (trích Nghêu, Sò, Ốc, Hến, tuồng đồ); Lời nói dối cuối cùng; Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ),...

1. Dàn ý nghị luận phân tích đánh giá tác phẩm kịch

1. Mở bài:

- Giới thiệu tác phẩm kịch cần phân tích.

- Nêu nhận xét, đánh giá khái quát về tác phẩm.

2. Thân bài:

- Xác định, phân tích, đánh giá chủ đề của tác phẩm.

- Phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

Đánh giá tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm.

- Nêu cảm nghĩ của bản thân và bài học rút ra sau khi đọc xong tác phẩm.

2. Phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong tác phẩm kịch Xã trưởng - Mẹ Đốp

Xã trưởng - Mẹ Đốp là đoạn trích được trích từ vở chèo Quan Âm Thị Kính, bằng ngôn ngữ đực trưng của chèo và các vai nhân vật, người đọc thấy được cuộc trao đổi giữa xã trưởng (người quản lí xã) với mẹ Đốp (vợ của người mõ làng) về việc đi rao mõ, thông báo cho cả làng biết tin Thị Mầu mang thai khi chưa có chồng. Qua đó thấy sự phê phán đối với những tầng lớp chức dịch như xã trưởng nhưng lại có tính trêu ghẹo, đùa cợt người khác, ham sắc và khinh người, tự cao và không có đạo đức.

Mở đầu đoạn trích là thông tin Thị Mầu mang thai khi chưa có chồng, bị rêu rao khắp làng xóm và bị phạt. Thông tin hết sức ngắn gọn được xã trưởng nêu lên để triệu tập bố Đốp ra làm việc. Thông tin ấy phần nào thể hiện xã hội cổ hủ, lạc hậu xưa với những giáo điều, quy định khắt khe.

Tiếp theo là màn đối đáp giữa xã trưởng (người quản lí xã) với mẹ Đốp (vợ của người mõ làng) về việc đi rao mõ, các màn kịch lần lượt được hiện lên. Đầu tiên là màn kịch phơi bày bộ mặt gian trá, dốt nát, kém hiểu biết của xã trưởng, sự tinh lanh, nhanh nhẹn hoạt ngôn của mẹ Đốp: “Một mình tôi cả xã ngóng trông/ Điều phải trái tôi nay trước bảo”. Rồi khi mẹ Đốp đọc thơ, xã trưởng cũng lấy làm hay thì mẹ Đốp bảo thầy chép về mà treo…

Tiếp đó là màn kịch của một tên háo sắc, nhũng nhiễu dân lành. Đường đường là người đứng đầu một làng một xã, lẽ ra phải là người ăn nói chỉn chu, lịch sự nhã nhặn với dân. Nhưng không, xã trưởng ở đây ngang nhiên gạ gẫm dân lành “nhà Đốp lớp này coi ra bảnh gái dễ coi lắm nhỉ… hôm nào mát trời tao sang gửi một đứa nhỉ”. Những ngôn ngữ “bảnh gái, gửi đứa” chỉ phù hợp với lứa trẻ đang tán tỉnh, trêu đùa nhau, không hề phù hợp với người cán bộ, người đứng đầu.

Và màn kịch cuối là màn kịch sử dụng ngôn ngữ đối thoại của hài kịch để khắc hoạ nổi bật tính cách của các nhân vật, cùng với sự dẫn dắt mâu thuẫn khéo léo, bất ngờ, hành động giàu kịch tính. Yếu tố hài hước được tạo nên từ những thủ pháp như sử dụng từ đồng âm ''bằng'' (“Bố cháu trẩy tỉnh lĩnh bằng rồi ạ/ Làm cái thứ mõ thì bằng với sắc cái gì/ Bố cháu cắp tráp theo hầu cụ Bá lên tỉnh lĩnh bằng rồi”); sử dụng âm vận “ôi” (Thánh đế lên ngôi/Chẳng giấu gì mẹ đốp là tôi; giấy quan về là phải báo với tôi/ tôi chưa ra là làng chửa được ngồi)… cùng những từ ngữ dân dã, xưng hô xuồng xã: con mẹ Đốp, con này, bảnh gái, mộc đạc… Qua đó nhân vật hiện lên rõ nét: mẹ Đốp là nhân vật nhân vật hài hước, gây cười, là người nhanh nhẹn, hoạt bát, mồm năm miệng mười. Còn xã trưởng là người tự hào khi mình được chọn làm lí trưởng, ra oai với dân làng, khinh bỉ, coi thường những người có địa vị thấp kém hơn mình. Sự xuất hiện hai nhân vật đối lập trong kịch bản chèo: giúp thể hiện rõ tư tưởng, triết lí dân gian bởi lời nói cử chỉ của nhân vật vừa gây cười nhưng rất thâm thúy, sâu sa, thể hiện rõ tư tưởng của tác giả dân gian.

Đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật chèo truyền thống. Xây dựng xung đột kịch lôi cuốn, hấp dẫn. Xây dựng nhân vật tiêu biểu, đại diện cho giai cấp tầng lớp trong xã hội (xã trưởng- quan lại kém hiểu biết, lố lăng háo sắc; mẹ Đốp- nông dân khéo ăn khéo nói). Những làn điệu chèo phù hợp, giúp diễn tả tâm trạng, tính cách nhân vật. Nhân vật mang tính quy ước, thiện – ác phân chia làm hai tuyến rõ ràng. Qua việc xây dựng nhân vật và xung đột kịch hấp dẫn góp phần thể hiện văn hóa dân gian, thể hiện rõ tư tưởng của tác giả dân gian.

3. Dàn ý nghị luận phân tích đánh giá nghệ thuật vở kịch Thị Mầu lên chùa

1. Mở bài:

- Giới thiệu tác phẩm "Thị Mầu lên chùa".

- Nêu nhận xét, đánh giá khái quát về tác phẩm.

2. Thân bài:

a. Xác định, phân tích, đánh giá chủ đề của tác phẩm:

* Chủ đề tác phẩm:

- Phê phán những người phụ nữ lẳng lơ, phóng túng.

- Đề cao vẻ đẹp của những người sống chuẩn mực, trong sạch.

* Phân tích chủ đề tác phẩm:

- Nhân vật Thị Mầu:

+ Xuất thân: Con gái phú ông.

+ Tính cách: Phóng túng, lẳng lơ.

+ Lời nói: Ngọt ngào, ve vãn, sỗ sàng, không phù hợp với nơi đền chùa.

+ Hành động: Trêu ghẹo, còn xông ra nắm tay để bộc lộ tình cảm.

- Nhân vật Kính Tâm:

+ Xuất thân: Là con gái của một gia đình nghèo, được gả vào nhà giàu làm dâu. Sau do biến cố nên phải giả nam nhi xin vào chùa tu hành.

+ Ngoại hình: Đẹp, thanh tú.

+ Tính cách: Điềm đạm, mực thước.

+ Lời nói: Luôn giữ sự chuẩn mực, phép tắc.

+ Hành động: lẩn tránh, thể hiện sự ngay thẳng, đường hoàng.

* Đánh giá chủ đề tác phẩm:

+ Kính Tâm đại diện cho người phụ nữ đức hạnh, Thị Mầu đại diện cho những người phụ nữ nổi loạn trong xã hội phong kiến xưa.

+ Thể hiện sự ca ngợi và phê phán rõ ràng.

b, Phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm:

- Khắc họa nhân vật thông qua lời nói, hành động: Tạo sự tương phản, đối lập, từ đó làm nổi bật tính cách, phẩm chất của nhân vật, làm rõ chủ đề tác phẩm.

Chất liệu ca dao, dân ca truyền thống: Dễ tiếp cận, dễ nhớ.

- Sử dụng thành công các biện pháp tu từ: so sánh, điệp ngữ.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm.

- Nêu cảm nghĩ của bản thân và bài học rút ra sau khi đọc xong tác phẩm.

4. Nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của màn kịch Thị Mầu lên chùa

Các loại hình nghệ thuật truyền thống luôn mang sức hút rất riêng đối với nhiều thế hệ. Có thể kể đến chèo, tuồng, hát xẩm,... Chúng là phương tiện hiệu quả để đưa con người đến gần hơn với văn học. Rất nhiều bài học đạo đức giá trị cũng từ đó được truyền tải một cách sống động và hiệu quả hơn. Một trong số những vở chèo nổi tiếng nhất phải kể đến là "Thị Mầu lên chùa" (trích "Quan Âm Thị Kính"). Kịch bản chèo kinh điển này đã đem đến cho người đọc cái nhìn, sự đánh giá về người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

Đầu tiên, có thể thấy tác phẩm đã hướng đến đề cao sự trong sạch, chuẩn mực của người phụ nữ, đồng thời phê phán thói lẳng lơ, phóng túng, đi ngược lại những giá trị đạo đức tốt đẹp xã hội đề ra. Có thể thấy rất rõ tư tưởng đó qua hình tượng hai nhân vật Kính Tâm và Thị Mầu.

Thị Mầu vốn là con gái phú ông - một xuất thân có thể gọi là cao quý thời đó. Thế nhưng, nàng ta lại đại diện cho sự nổi loạn, đi ngược với giá trị đạo đức tốt đẹp mà xã hội đề ra. Ở nơi đình, chùa thiêng liêng, Mầu vẫn buông được lời chọc ghẹo, ve vãn, tán tỉnh chú tiểu. Thậm chí, thị còn xông ra nắm tay để bộc lộ tình cảm với Kính Tâm, khiến Kính Tâm phải chạy. Ta cũng dễ nhận ra được quan niệm tình yêu rất "lệch chuẩn", phóng khoáng của Mầu qua câu hát trêu ghẹo: "Thầy như táo rụng sân đình/Em như gái rở, đi rình của chùa", "Ấy mấy thầy tiểu ơi!/Song đứng trước cửa chùa/...Trúc xinh trúc mọc sân đình/Em xinh em đứng một mình chẳng xinh!". Những chi tiết ấy đã vẽ nên một hình tượng nhân vật nữ mới lạ, nổi loạn trong xã hội phong kiến khắt khe lúc bấy giờ.

Trái lại, Kính Tâm vốn là con gái của một nông dân nghèo, được giả vào gia đình khá giả. Tuy nhiên biến cố xảy ra khiến nàng Thị Kính phải giả trai, xin vào chùa tu hành. Với vẻ đẹp thanh tú, điềm đạm, "đẹp như sao băng", nàng đã thu hút được sự chú ý của con gái phú ông. Trước những lời ong bướm cùng hành động sỗ sàng của Thị Mầu, Kính Tâm vẫn một mực giữ phép tắc. Lời nói của nàng chuẩn chỉnh, hành động thì đường hoàng, ngay thẳng. Tất cả đã tạo nên hình tượng một con người nề nếp, gia giáo, đại diện cho những người phụ nữ đức hạnh.

Qua sự đối lập trong tính cách, hành động đó, ta thấy được rõ ràng thái độ khen - chê mà tác giả hướng tới nhân vật. Sự trái ngược trong cái nhìn về đào thương và đào lẳng cũng góp phần đẩy câu chuyện phía sau lên cao trào. Thị Mầu chính là đại diện cho người phụ nữ nổi loạn còn Thị Kính đại diện cho người phụ nữ đức hạnh, thanh cao. Càng phê phán, chê trách Thị Mầu bao nhiêu, ta lại càng thêm đồng cảm và trân quý Kính Tâm bấy nhiêu.

Tác phẩm thành công không chỉ về nội dung chủ đề mà còn về cả mặt nghệ thuật. Với những kịch bản chèo, nhân vật chủ yếu sẽ được khắc họa qua lời thoại và hành động. Ở đoạn trích "Thị Mầu lên chùa", ta thấy chủ yếu là lời thoại của Thị Mầu. Nó thể hiện sự sỗ sàng, không kiêng nể của người phụ nữ phóng túng, lẳng lơ. Trong khi lời của Kính Tâm xuất hiện rất ít, thưa thớt, mang đến cảm giác điềm tĩnh, mực thước, thậm chí có chút né tránh. Cùng với tiếng đế được chèn xen kẽ, người đọc dễ dàng cảm nhận rõ hơn về những điều phải - trái, đúng - sai đang diễn ra. Tác phẩm đã sử dụng chất liệu ca dao thân thuộc, kết hợp cùng những biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ. Nhờ đó, nó lại càng dễ dàng đi vào trong trí nhớ của người đọc.

Với những yếu tố nghệ thuật đặc sắc như vậy, đoạn trích đã làm nổi bật lên mâu thuẫn hay chính là sự khác biệt giữa hai nhân vật nữ. Cái nhìn, sự đánh giá của tác giả cũng như của chính người đọc được thể hiện hết sức rõ ràng qua rất nhiều tiếng đế. Nhờ vậy mà tác phẩm kịch trở nên thu hút, gây tò mò hơn cho độc giả ở mọi thế hệ. Và đến khi vở chèo được diễn xướng, đưa lên sân khấu, nó sẽ càng trở nên hấp dẫn hơn đối với người xem. Tất cả đã góp phần giúp nâng cao giá trị tác phẩm, làm giàu và làm đẹp cho kho tàng nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Đoạn trích "Thị Mầu lên chùa" tuy chỉ là một phần của tác phẩm gốc "Quan Âm Thị Kính" nhưng đã thể hiện rất rõ quan điểm, thái độ của dân gian về người phụ nữ. Ngày nay, xã hội đã phát triển và hội nhập với thế giới. Quan niệm về tình yêu của con người cũng đã thay đổi, không còn quá khắt khe như trong thời phong kiến. Tuy vậy ta vẫn cần giữ cho bản thân những đức tính tốt đẹp, nghiêm chỉnh, chuẩn mực của người phụ nữ phương Đông. Ta có thể thoải mái thể hiện mình, bày tỏ tình yêu, sự thích thú, chỉ cần nó không đi ngược lại các quy chuẩn đạo đức chung mà cộng đồng đề ra.

5. Dàn ý nghị luận phân tích đánh giá nghệ thuật vở kịch Huyện Trìa Xử Án

1. Mở bài:

- Giới thiệu tác phẩm "Huyện Trìa xử án".

- Nêu nhận xét, đánh giá khái quát về tác phẩm.

2. Thân bài:

2.1. Đề tài, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: Tố cáo, phê phán bọn tham quan trong xã hội phong kiến.

2.2. Phân tích tác phẩm:

a. Nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nhân vật:

- Thị Hến mua tài sản mà Ốc và Ngao trộm cắp được từ nhà phú hộ Trùm Sò. Trùm Sò kiện lên quan trên nhằm đòi lại công bằng => nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phiên xử án.

- Vị quan tri huyện quyền cao chức trọng có cuộc sống đầy đủ nhưng không hạnh phúc. Vợ quan tri huyện là người ghen tuông, nóng nảy.

- Đều Hầu và Huyện Trìa từ trước đã "bằng mặt không bằng lòng".

b. Diễn biến và sự phát triển mâu thuẫn giữa các nhân vật trong phiên tòa:

* Đề Hầu trình báo với Huyện Trìa về vụ án của Thị Hến và Trùm Sò:

- Tính cách của Đề Hầu được bộc lộ thông qua những lời nhận xét của Huyện Trìa.

=> Đề Hầu là kẻ nói xằng bậy, không đúng sự thực.

=> Qua lời nói của Huyện Trìa, người đọc đã thấy được những bất đồng, mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa hai người.

* Thị Hến khai với Huyện Trìa và cách xử án của Huyện Trìa:

- Thị Hến:

+ Là kẻ mang tội nhưng lại kêu oan, ăn không nói có.

+ Lấy hoàn cảnh góa bụa ra để lấy lòng thương của quan.

+ Hùa theo thói háo sắc, đê tiện của Huyện Trìa để trục lợi.

- Huyện Trìa:

+ Thấy hoàn cảnh của Thị Hến thì nổi thói háo sắc.

+ Vì thói đê tiện, trăng hoa, phóng đãng mà xử án xằng bậy.

+ Khi thấy Thị Hến đồng thuận với mình, hắn liền sai ngay Đề Hầu đi lấy tờ khai cho Thị điền.

- Đề Hầu: trong lòng không đồng ý với Huyện Trìa nhưng ngoài mặt vẫn xui nịnh, để bụng về mách mụ huyện.

c, Kết cục của phiên tòa:

- Thị Hến được tha bổng.

- Vợ chồng Trùm Sò từ người bị hại biến thành kẻ có tội, phải chấp nhận kết cục bất công và lui về, không lấy lại được đồ đã mất.

2.3. Đánh giá tác phẩm:

* Nội dung:

- Thể hiện thái độ châm biếm, mỉa mai với những tên tham quan, ô lại.

- Phê phán bọn đứng đầu bộ máy cai trị nhưng lại chuyên đi nhũng loạn người dân

- Thái độ đồng cảm với những con người thấp cổ bé họng: vợ chồng Trùm Sò

* Nghệ thuật:

- Khắc họa nhân vật thông qua hành động và lời nói.

- Nghệ thuật châm biếm sâu cay: Bày tỏ thái độ phê phán/đồng cảm với nhân vật.

- Sử dụng ngôn từ mộc mạc, dân dã:

+ Tạo sự gần gũi, quen thuộc.

+ Giúp người đọc dễ tiếp cận tác phẩm.

+ Phù hợp với hình thức diễn xướng.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm.

- Nêu cảm nghĩ của bản thân và bài học rút ra sau khi đọc xong tác phẩm.

6. Nghị luận phân tích đánh giá tác phẩm kịch Huyện Trìa Xử Án

Chèo là một trong những hình thức nghệ thuật truyền thống vô cùng nổi tiếng của dân gian Việt Nam ta. Sự sâu sắc mà không kém phần giản dị của nó đã mang đến cho người đọc, người nghe vô số bài học sâu sắc. Trong số đó, em rất ấn tượng với kịch bản chèo "Huyện Trìa xử án". Tác phẩm đã bày tỏ rõ ràng thái độ phê phán với những tên tham quan trong xã hội phong kiến xưa.

Trước hết, phải xét đến những nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nhân vật. Nếu nói về lí do trực tiếp của vụ kiện cáo thì đó là do Thị Hến mua tài sản mà Ốc và Ngao trộm cắp được từ nhà phú hộ Trùm Sò. Vợ chồng Trùm Sò biết được, có cả tang chứng vật chứng nên đã kiện cáo lên quan trên, mong đòi lại được công bằng. Tuy vậy, ẩn đằng sau vụ xét xử xằng bậy kia là sự mâu thuẫn trong chính những người thực thi công lí. Huyện Trìa là quan tri huyện - một người quyền cao chức trọng với sự đầy đủ, dư dả về tiền tài, của cải. Thế nhưng lão lại có đời sống gia đình không hạnh phúc với mụ vợ nóng nảy, hay ghen tuông. Hay cả ngay trong chính mối quan hệ của lão với thân tín Đề Hầu cũng là sự "bằng mặt không bằng lòng".

Đến với diễn biến của cuộc xét xử, khi Đề Hầu bẩm báo về vụ việc, Huyện Trìa đã nhận xét Đề Hầu là tên hay nói xằng nói bậy: "Đã biết mặt lão Đề hay nói bậy". Hắn miêu tả Đề Hầu với ý châm biếm, chê bai: "Lưng cù chầy hình khéo bơ sờ/Mồm xà cáng vinh râu ngoe ngoét". Chi tiết này khiến cho mối quan hệ tôi - tớ bất ổn được bộc lộ ra một cách vô cùng rõ ràng.

Đến khi nghe lời Thị Hến kêu oan và thấy cách xử án của Huyện Trìa, độc giả lại càng thấy rõ hơn sự thối nát của bộ máy quan lại cũng như những bất công mà nhân dân phải chịu đựng. Thị Hến vốn là kẻ có tội nhưng trước mặt quan thì lại đi kêu oan. Dù tang chứng vật chứng rành rành nhưng mụ vẫn ăn không nói có, thậm chí còn lấy hoàn cảnh của bản thân ra để lấy sự thương hại. Khi biết quan có ý với mình, mụ ta lợi dụng luôn điều đó, hùa theo thói đê tiện của Huyện Trìa để trục lợi cho bản thân. Nhưng một người thực thi công lí như quan tri huyện mới là kẻ thực sự vô lại. Thấy Thị Hến góa chồng, hắn lập tức nổi thói trăng hoa. Miệng hắn thì bảo sẽ "xử phân thuận lí" nhưng thực chất lại đưa ra phán quyết xằng bậy. Thấy Thị Hến đồng thuận với mình, Huyện Trìa lập tức đổi trắng thay đen, buộc tội vợ chồng Trùm Sò "Ỷ phú gia hống hách/Hiếp quả phụ thân cô". Từ đó, kẻ có tội thì thoát, người kêu oan đành chịu. Đến thân tín của hắn là Đề Hầu cũng nhận thấy cách xử án này là vô lí: "Mụ đà nên tệ/Ông Huyện cũng xằng" nhưng ngoài mặt thì vẫn xu nịnh, đồng tình, định bụng về mách với mụ huyện. Tất cả đã vẽ ra bức tranh chân thực và trần trụi nhất về một xã hội phong kiến ngập tràn bất công với những tên tham quan ô lại.

Tác phẩm cũng thể hiện sự xót thương, đồng cảm với vô số con người thấp cổ bé họng khi xưa, được đại diện bởi vợ chồng Trùm Sò. Kết thúc phiên xét xử, Thị Hến thắng kiện. Vợ chồng Trùm Sò không chỉ không lấy lại được của mà còn bị vu oan, giáng tội, phải ngậm ngùi chấp nhận phán quyết bất công: "Trời cao kêu chẳng thấu/Quan lớn dạy phải vâng/Cúi đầu tạ dưới sân/Xin lui về bổn quán". Sự bất lực, nhịn nhục của họ được thể hiện vô cùng rõ ràng, khiến người đọc càng xót xa hơn cho những con người nhỏ bé, "thân cô thế cô" trong một xã hội đầy rẫy bất công.

Thành công về nội dung của tác phẩm còn đến từ nghệ thuật xây dựng cốt truyện chặt chẽ và đầy ý nghĩa. Các nhân vật được khắc họa chủ yếu qua lời nói và hành động, giúp người đọc tự cảm nhận và đánh giá được về tính cách, con người của họ. Bức chân dung những tên tham quan ô lại hiện lên càng chi tiết, rõ ràng, mang đến cái nhìn rõ nét hơn cho người đọc. Ở đây, ta dễ dàng thấy được nghệ thuật châm biếm sâu cay: một ông tri huyện quyền cao chức trọng nhưng lại hèn nhát, sợ vợ; người thực thi công lí nhưng không làm theo luật, chỉ luận tội bằng cảm tính; tình huống xử án tréo ngoe; kết quả xét xử bất công;... Vị thế đối lập của những tên quan lại, người đàn bà góa bụa tâm cơ gian xảo với hai vợ chồng Trùm Sò không quyền không thế cũng được khắc họa rõ nét qua những lời thưa gửi, phán xử. Nhờ đó, sự mục rỗng của xã hội phong kiến hiện lên hết sức chân thực. Không chỉ có vậy, ngôn ngữ giản dị, gần gũi cũng là một yếu tố quan trọng làm nên thành công của tác phẩm. Một câu chuyện hay với cách truyền đạt uyển chuyển, dân dã rất dễ dàng đi sâu vào lòng độc giả. Nó khơi gợi sự đồng cảm mạnh mẽ, đồng thời khiến cho trải nghiệm đọc của ta thêm mới mẻ, ý nghĩa hơn.

Với những đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật, "Huyện Trìa xử án" đã thành công mang lại cái nhìn chân thực nhất cho người đọc về thực trạng của xã hội phong kiến xưa. Ngày nay, trong xu hướng hội nhập với nhiều văn hóa mới từ nước ngoài, những loại hình nghệ thuật dân gian vẫn giữ nguyên được vị thế của mình. Bằng vô số bài học đạo đức quý giá, chèo đã và đang được bảo tồn, phát triển để phù hợp hơn với xu thế chung, đem lại giá trị tốt đẹp cho con người.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 10 thuộc chuyên mục Học tập của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 2.080
0 Bình luận
Sắp xếp theo