5 mẫu cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang hay chọn lọc

Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang - Tràng giang là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Huy Cận. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ mẫu bài cảm nhận khổ 1, 2 bài Tràng Giang hay và chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Cảm nhận 2 khổ đầu bài Tràng Giang trong tác phẩm Tràng giang của nhà thơ Huy Cận giúp bạn đọc cảm nhận rõ hơn về bức tranh thiên nhiên mênh mông bất tận cũng như tâm trạng mang cảm giác sầu buồn, cô đơn, nỗi buồn như trải dài vô tận của tác giả. Bên cạnh đó Huy Cận còn thể hiện niềm yêu quê hương, đất nước của mình. Sau đây là mẫu dàn ý cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang cùng với các bài văn mẫu cảm nhận hai khổ thơ đầu bài Tràng giang siêu hay sẽ giúp các bạn có thêm ý tưởng sáng tạo khi viết bài.

1. Dàn ý cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang

Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Giang, đoạn thơ cần phân tích.

Thân bài:

* Giới thiệu sơ lược hoàn cảnh sáng tác bài thơ

Khổ 1: Tràng giang hiện lên với nhiều hình ảnh đẹp trong cổ thi: dòng sông, con thuyền, gợn sóng,…

– Nhưng cảnh đẹp mà lại thấm đượm một nỗi buồn da diết bâng khuâng.

– Hai chữ “điệp điệp” gợi hình ảnh những con sóng từng gợn nhẹ nhấp nhô hòa mình vào. Sóng của dòng sông, của thiên nhiên trong phút ấy cũng hóa thành con sóng lòng của thi nhân với từng nỗi buồn cứ thế trùng điệp ở trong lòng.

– Xưa nay, thuyền – nước vốn là hai sự vật không thể tách rời thế mà nay chúng lại hững hờ như không ăn nhập vào nhau.

– Thi nhân bắt gặp cành củi khô đơn độc “Củi một cành khô lạc mấy dòng” là hình ảnh ẩn dụ để biểu tượng cho kiếp người như thi nhân đang nổi trôi, bơ vơ, vô định giữa dòng chảy của cuộc đời, giữa cuồng phong của một đất nước mất chủ quyền?

⇒ Tác giả buồn về sự chia li, tách biệt của sự vật, buồn về kiếp người nhỏ bé, vô định giữa cuộc đời.

* Khổ 2:

– Câu thơ đầu: Huy Cận tâm sự rằng ông học được ý từ hai câu thơ của Chinh phụ ngâm: “Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo/ Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò”.

– Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự rời rạc, thưa thớt của những cồn đất nhỏ nhoi mọc lên giữa dòng sông gợi cảm giác hoang vắng, cô tịch, tiêu điều, xơ xác.

– Hai chữ “đìu hiu” như càng khắc sâu thêm nỗi buồn hiu hắt làm câu thơ chùng xuống như một tiếng thở dài man mác.

– Là thứ âm thanh mơ hồ của một phiên chợ đã vãn theo làn gió lan xa mãi càng gợi thêm sự vắng vẻ, quạnh hiu.

– Không gian ba chiều rộng lớn “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu” ⇒ Đó chính là sự rợn ngợp của hồn người trước cái vô cùng của vũ trụ.

⇒ Nhà thơ đã cảm được một nỗi buồn cô đơn đến rợn ngợp, thấy mình nhỏ bé trước vũ trụ bao la, lạc lõng giữa cuộc đời.

Đánh giá: Hai khổ thơ đầu là Nỗi sầu của một tâm hồn cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, chia lìa xa cách. Trong đó thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu nước thiết tha…

– Nghệ thuật:

+ Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại (Cổ điển: thể thơ thất ngôn; những hình ảnh thơ quen thuộc trong văn học trung đại. Hiện đại: sự xuất hiện của những cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa; cảm xúc buồn mang dấu ấn “cái tôi” cá nhân…)

+ Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.

Kết bài: Đánh giá về giá trị của bài thơ, tài năng của tác giả…

2. Cảm nhận của ảnh chị về hai khổ thơ đầu của bài Tràng giang

Huy Cận là một người yêu thích thơ ca Việt Nam. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho phong trào thơ mới với hồn thơ ảo não. Các sáng tác của Huy Cận luôn bám sát hiện thực cuộc sống, thời đại. Các sáng tác của Huy Cận trước Cách mạng tháng 8 mang nét sầu não, buồn thương. Điển hình là bài thơ Tràng giang, tác phẩm đã thể hiện tình yêu quê hương, con người tha thiết của tác giả cũng như nỗi nhớ nhà của tác giả khi đứng trước một không gian mênh mông rộng lớn.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Khoảng thời gian trước Cách mạng tháng Tám, đại đa số thanh niên, tri thức trẻ nhất là những người có tinh thần dân tộc, hầu như bế tắc khi không tìm được hướng đi cho bản thân trong hoàn cảnh xã hội rối ren, đất nước rơi vào tay giặc. Chàng trai Huy Cận đang nhìn đời bằng đôi mắt xanh non bỗng nhuốm màu sầu khổ khi ý thức được nỗi đau thân phận. Nỗi buồn này không phải buồn cho mình mà là buồn cho người. Nỗi sầu cũng không vì thân thế mà vì nhân thế.

Bài thơ Tràng giang ra đời trong cảnh tình ấy, thêm nỗi lòng nhớ quê nhà dai dẳng khi đứng trước cảnh sông dài, trời rộng. Tràng giang ban đầu có tên Chiều trên sông, sau đó chính nhà thơ sửa lại và in trong tập Lửa thiêng (1939). Với thể thơ bảy chữ trường thiên, Tràng giang như một miền hoài tưởng xa xôi mà ở đó mỗi khổ thơ hiện lên thành một bức tranh thuỷ mặc có chiều sâu liên tưởng. Chiều sâu này được tạo ra từ ngay nhan đề. Tràng giang có nghĩa là sông dài hoặc trường giang. Tuy nhiên về mặt âm tiết thì tràng sẽ ngân vang hơn trường. Âm tiết mở này rất phù hợp để gợi cảm giác dòng sông khoáng đạt, bao la, vô tận. Tràng giang còn là tiếng gọi tha thiết của thi nhân khi đang lạc lõng, chơi vơi giữa cuộc đời, mong muốn giao cảm với người, với đời mà nhận lại tuyệt vọng, đắng cay.

Bài thơ mở ra với câu đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã làm dấy lên cảm xúc rợn ngợp khó tả khi trước mắt chúng ta là không gian bao la của sông dài và trời rộng. Một trạng thái “bâng khuâng” nhiều nghĩ ngợi, lo âu và buồn tủi khi nghĩ về phận mình, phận đời còn vô định. “Trời rộng”, “sông dài” vẽ ra một không gian bất tận ở đó chữ “nhớ” như một nhịp cầu nối hai bờ. Tuy vậy cái hữu hình không sao ngăn được sự vô hình của tâm trạng đang choáng ngợp cả không gian, lẫn thời gian. Cấu tứ bài thơ cũng đặc biệt khi bốn khổ thơ đặt cạnh nhau như bốn bức tranh tả cảnh mà cũng tả tình. Dẫu đều mang một màu tâm trạng cô đơn, sầu tủi nhưng mỗi nỗi sầu mang một diện mạo riêng.

Khổ thơ đầu tiên đã vẽ ra cảnh sông nước tràng giang mênh mông, ở đó có những nỗi buồn thân phận cho kiếp người lạc lõng, vô định.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Cảnh sông nước bất tận còn tình người trước sông nước thì triền miên nỗi buồn. Thế nên từng câu thơ đã hiện ra gợi vào lòng người cảm giác lâng lâng khó tả “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Bức tranh thiên nhiên đan xen bức tranh tâm trạng, cảnh và người song song nhau, đan cài trùng điệp. Sự đan cài này bắt đầu từ hình ảnh “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Cũng là cơn sóng ngàn năm còn vỗ nhưng không “dữ dội, dịu êm” cũng chẳng “ồn ào, lặng lẽ”. Sóng từng lớp “gợn” nhẹ nhàng, đều đặn đúng với nhịp sóng lòng nơi trái tim đang thổn thức. Cơn sóng gợn là sóng nước cũng là sóng lòng đang âm ỉ, cái “gợn” của sóng là cái “gợn” của tâm hồn.

Mỗi gợn sóng đồng điệu với “buồn điệp điệp”. Từ láy “điệp điệp” gợi những lớp sóng bủa vây nghìn trùng, day dứt không ngừng nghỉ. Huy Cận không dùng cách nói của người xưa “trùng trùng điệp điệp” hoặc “trùng điệp”, cái mới của nhà thơ là thổi hồn vào cho từng đợt sóng để “điệp điệp” không chỉ tả sóng mà còn là nỗi ám ảnh của cõi lòng. Nỗi buồn điệp điệp là nỗi buồn có thể cảm nhưng không thể nói hết bằng lời, chỉ có “buồn điệp điệp” mới diễn tả đúng tinh thần của “gợn”.

Trên nền khung cảnh mênh mông ấy thì hình ảnh con thuyền đang xuôi dòng một cách hững hờ “Con thuyền xuôi mái nước song song”. Thuyền và nước xưa nay vẫn là một đôi, một cặp. Thuyền theo dòng nước, nước nhẹ đẩy thuyền trôi. Cũng là hai hình ảnh quen thuộc nhưng sao câu thơ không gợi được sự sum vầy mà lạc lõng, đơn côi. Từ láy “song song” có nét nghĩa của đi bên cạnh nhau, song hành nhau nhưng vẫn không thể nào chạm vào nhau. Giữa nước và thuyền dường như đã định sẵn sự biệt ly khi chẳng bao giờ có thể gặp gỡ, chỉ song song bên nhau chứ không gắn bó tha thiết gì nhau.

Nước xuôi trăm ngả còn thuyền thì xuôi theo dòng nước, cứ tưởng đồng hành cùng nhau ai ngờ lại nhuốm mầm chia biệt dù đang ở gần kề. Sự chia biệt này thể hiện rõ ở câu tiếp theo

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Chỉ bằng hình ảnh thuyền và nước đã xuất hiện trước đó nhưng câu thơ mang nhiều nét nghĩa theo từng cách hiểu khác nhau gắn với từ “lại”. Nếu chúng ta ngắt câu thơ ra thành nhịp 2/2/3 thuyền về/ nước lại/ sầu trăm ngả thì có thể thấy được nét nghĩa: thuyền rời đi còn nước thì ở lại, cả hai không thể gặp gỡ thế nên sầu nhớ. Cũng cách ngắt nhịp này ta hiểu từ “lại” là động từ có nghĩa đến vậy câu thơ mang nét nghĩa: thuyền rời đi thì nước đến. Cả thuyền và nước không giao nhau tại một thời điểm nên chẳng thể gặp nhau. Khi ngắt câu thơ ra thành: thuyền về/ nước lại sầu trăm ngả thì ta có thể hiểu một trạng thái tâm lý khác của nước. Thuyền đến nơi cùng nước thì nước lại cảm thấy buồn. Dù ở cách hiểu nào từ “lại” cũng mang sự độc đáo diễn tả vòng tuần hoàn của tâm trạng. Thuyền và nước mãi mãi chẳng gặp gỡ nhau, chuyến hành trình dài của cả hai đều vô định. Thế nên nỗi “sầu trăm ngả” của nước và thuyền là mối sầu thiên thu của thi nhân trong cảnh tình chia cắt, mình lạc lõng với xã hội, mình chơi vơi cùng mình.

Con thuyền, sóng nước còn là phép ẩn dụ cho thân phận và cuộc đời. Con thuyền là kiếp người đơn độc, nhỏ nhoi chẳng thể làm chủ được chuyến hành trình trên con sông cuộc đời vô tận. Hiểu được nỗi buồn của Huy Cận để thấy con thuyền vô định kia không ai khác là nhà thơ và lớp thanh niên chưa tìm ra lối đi cuộc đời mình. Nỗi trăn trở này được nhà thơ gửi vào hình ảnh cành củi khô lạc mấy dòng.

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Câu thơ khá ấn tượng với phép đảo ngữ “củi một cành khô” mà không phải là “một cành củi khô”. Phép đảo ngữ này nhấn mạnh hình ảnh củi khô trên dòng tràng giang buồn bi thiết. So với những thi liệu quen thuộc “sóng, nước, thuyền” đã xuất hiện trước đó thì “củi” đúng là rất mới mẻ. Hình ảnh này vượt ra ngoài tính vi phạm, trở thành điển hình cho thân phận lạc loài, bơ vơ, nhỏ bé của kiếp người. Thế nên “củi” chính là hình ảnh mang nghĩa ẩn dụ tượng trưng sáng tạo trong khổ thơ. Củi mang bản chất đã không còn sự sống đặt bên cạnh tính từ “khô” lại càng héo hắt, hết hy vọng. Điều đáng nói là cái khô héo, cạn kiệt sự sống ấy được đặt trong một môi trường mênh mông sóng nước.

Những con số đếm như “trăm, một, mấy” đặt ở đoạn thơ như chứng minh cho sự đối lập giữa cái ít ỏi, lẻ loi của phận người và cái lớn lao, rợn ngợp của cuộc đời.

Một thân, một phận như cành củi khô chẳng biết về đâu khi đời trăm ngả mà ngả nào cũng muôn trùng sóng nước. Nỗi buồn của thi nhân được gợi lên từ những hình ảnh mang màu cổ điển như sóng, con thuyền, dòng sông và cả những hình ảnh đời thường “củi”. Dù vẽ nên cảnh sông nước bao la nhưng dường như nét nào cũng rời rạc, chia lìa. Bởi lẽ “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Cái nhìn của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám là cái nhìn “rớm vị chia phôi” nên đâu đâu cũng là lời “than thầm tiễn biệt”. Cái nhìn ấy cũng là cái nhìn chung của lớp thi sĩ còn đang ngổn ngang trước cảnh tang tóc đau thương của đất nước.

“Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước

Chọn một dòng hay để nước trôi?”

(Dậy lên thanh niên – Tố Hữu)

Đứng trước mênh mông của vũ trụ, con người thường choáng ngợp và nghĩ nhiều về thân phận nhỏ nhoi của mình. Tâm sự này chất chứa suốt chặng đường thơ của Huy Cận trước Cách mạng. Bức tranh thứ hai không phải là cảnh sông nước rộng lớn nhưng vẫn là không gian bao la đến vô tận. Đối lập với không gian ấy là cuộc sống ảm đạm, hắt hiu.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Cảnh vật trong khổ thơ này được bổ sung phong phú hơn, có “cồn nhỏ”, “gió đìu hiu”, “tiếng làng xa”, “chợ chiều”, “sông dài”, “trời rộng”, “bến cô liêu”. Tuy vậy so với khổ thơ trước thì bức tranh bằng ngôn từ này không khởi sắc hơn mà chỉ cụ thể hơn nỗi sầu sâu thẳm. Một buổi chiều trên sông, cảnh cũng ngả hoàng hôn vắng lặng. Nhìn về phía có cồn đất nổi giữa sông chẳng góp được cho dòng tràng giang một nét giới hạn mà chỉ khiến cho sông càng rộng, cồn càng nhỏ. Sự đối lập của “cồn” trong không gian rộng còn được tô điểm thêm bởi hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu”. “Lơ thơ” diễn tả sự rời rạc, nhỏ lẻ dễ khiến người ta liên tưởng đến những âm như “bơ vơ”, “trơ trọi”. Cảnh đã lặng đến thế có chút sống động của gió cũng không thể tạo chút tâm trạng nào khác “đìu hiu” nghe bẽ bàng, quạnh. Quẽ. Một câu thơ có sự xuất hiện của hai từ láy đặt hai đầu của “cồn nhỏ” giống như một chiếc đòn gánh tâm trạng mà hai đầu là sự trống trải, ít ỏi, thưa thớt và buồn tẻ đến tột cùng.

Khổ thơ vẫn có chút sự sống tồn tại ở câu “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”, tuy nhiên sự sống này vẫn còn mơ hồ chưa cụ thể. Cách dùng từ ngữ của nhà thơ khiến chúng ta phải đặt tâm trạng vào hai cảnh huống khác nhau. “Đâu” có thể hiểu là “đâu đây” khẳng định sự tồn tại của âm thanh buổi chợ chiều. Dù buổi chợ đã “vãn” không còn náo nhiệt như ban sáng nhưng ít ra cũng còn chút âm thanh sự sống. Từ “đâu” trong trường hợp này khiến ta nhớ đến chuyện thế sự của một ngư phủ trên chiếc thuyền câu bé tẻo “cá đâu đớp động dưới chân bèo” (Thu điếu – Nguyễn Khuyến). Thế nhưng “đâu” còn có một nét nghĩa khác chỉ sự phủ định không có cả âm thanh buổi chợ dù là chợ chiều đã vãn. Nếu hiểu theo nghĩa này cảnh vật sẽ chìm trong tuyệt đối im lặng trong cảnh hoàng hôn. Nếu hiểu theo nghĩa có đâu đó tiếng chợ cũng chẳng khiến tâm trạng con người khởi sắc, âm thanh vang vọng xa xa thưa thớt chỉ làm lòng người nặng nỗi sầu nhớ mông lung.

Đã không tìm được chút gì mới mẻ để vơi bớt nỗi sầu, thi nhân hướng đôi mắt của mình vào không gian cao rộng của tràng giang.

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Không gian ba chiều được mở ra với sự kết hợp của các cụm từ mới khiến cho câu thơ vừa quen lại vừa lạ lẫm. Nhìn ở góc độ nào cảnh vật cũng dường như vô biên không ranh giới, khó lòng mà dùng những tính từ thuận theo lẽ thường mà diễn tả. Thế nên mới có cái “sâu chót vót” , “nắng xuống, trời lên”. Trong hai câu thơ có hai cặp từ đối lập nhau “xuống, lên”, “dài, rộng”. Riêng hai động từ “xuống, lên” chỉ sự vận động ngược hướng dù cùng một phương thẳng đứng. Sự góp mặt của hai động từ này kết hợp với “nắng” và “trời” sự vô biên của không gian được mở ra theo chiều cao. Hai tính từ trái nghĩa “dài”, “rộng” gắn với “sông” và “trời” mở sự vô biên ra chiều ngang. Không gian có sự vận động rõ rệt kéo theo của nắng và trời, nắng xuống đến đâu, trời cao đến đó.

Chính sự nới rộng này đã dẫn đến cái nhìn “sâu chót vót” bề ngoài có vẻ không hợp lý vì thông thường người ta dùng “chót vót” cho cao. Thế mà Huy Cận lại dùng sự kết hợp này rất có hồn. Để diễn tả độ cao không gì bằng từ láy “chót vót” bởi vì bản thân nó luôn trong trạng thái chưa hoàn tất được độ cao cần nói đến, có nghĩa là độ cao ấy khó mà diễn tả hết được. Trời cao chót vót là lẽ đương nhiên. Tuy vậy cái nhìn của nhà thơ không dừng lại ở đỉnh trời mà xuyên đến tận đáy vũ trụ để cảm hết chiều sâu. Điều thú vị còn nằm ở vị trí của điểm nhìn không phải từ dưới lên cao, cũng không phải từ trên xuống mà từ đáy vực sâu thẳm hướng lên. Cái nhìn của thi nhân chi phối độ sâu và cao của trời chứ không phải tự nhiên mà có.

Để phù hợp với kích thước vô tận của trường giang thì “sông dài, trời rộng” một không gian bao quát muôn trùng nước, muôn trùng trời vây lấy “bến cô liêu”. Sông càng dài, trời càng rộng thì lẽ hiển nhiên bến sẽ cô liêu. So với sông và trời thì bến dường như mất hết sự kết nối nên ôm nỗi “cô liêu” muôn thuở. Bến cô liêu là cách nói nhân hoá, bến cô liêu hay người trên bến cô liêu? Hình ảnh này mới tương xứng với cồn nhỏ đìu hiu và cành củi khô trơ trọi. Trước sự vô tận của vũ trụ thì con người nhỏ bé chẳng thể tìm được nơi bám víu. Thế nên mỗi cảnh, mỗi vật đều nhuốm linh hồn buồn bã, phôi phai, mờ nhạt. Sự sống có chăng cũng chỉ là dấu hiệu mờ nhạt không thể an ủi được đáy lòng khắc khoải.

Hai khổ thơ đầu là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển và hiện đại nên chúng ta tìm thấy cả những thi liệu mang phong vị Đường thi, nhiều hình ảnh tượng trưng và cả những chất liệu đời thường. Quan trọng hơn cả là trong lớp vỏ cổ điển ta tìm thấy một tâm hồn hiện đại. Đấy là cái tôi cô đơn trước cuộc đời, cái tôi lạc lõng khi đất nước đang trong cảnh lầm than, kiếp sống con người vô định. Từ bức tranh sông nước đượm buồn, nhà thơ bộc lộ tấm lòng “ưu thời mẫn thế” của mình. Đó là tấm lòng của lớp thanh niên yêu nước, đau đời nhưng không thể cứu được đời.

“Cha ông năm tháng đè lưng nặng

Những bạn đương thời của Nguyễn Du

Nung nấu tâm can, vò võ trán

Đau đời có cứu được đời đâu.”

(Các vị La Hán chùa Tây Phương – Chế Lan Viên)

Hai bức tranh đầu của Tràng giang khép lại, nhưng những đường nét u buồn vẫn còn đọng trong lòng mỗi chúng ta. Cái buồn của những tiếng kêu đau đáu cho phận mình, phận người trước cuộc bể dâu. Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét “Huy Cận than thân thì ít mà góp tiếng khóc cho đời thì nhiều”. Tiếng khóc ấy là tiếng khóc của người trai nặng tình với non sông, đất nước, khao khát được giao hoà với đời, được sống trong cuộc đời tự do.

3. Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang ngắn gọn

Huy Cận được biết đến với một hồn thơ "cổ điển nhất trong phong trào Thơ mới”. Ông tâm sự “Trước Cách mạng, tôi thường có thú vui vào chiều chủ nhật hàng tuần đi lên vùng đê Chèm để ngoạn cảnh sông Hồng. Phong cảnh sông nước đẹp gợi ho tôi nhiều cảm xúc”. Và bài thơ “Tràng giang” được viết ra thể hiện một nỗi buồn, nỗi cô đơn, lạc lõng của con người trước cuộc đời.

Mở đầu bài thơ, nhà thơ Huy Cận đã sử dụng hình ảnh thơ quen thuộc: con thuyền, dòng sông để gợi nên cảm xúc:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Âm Hán việt “tràng giang” đã được tác giả sử dụng bằng việc hiệp vần “ang”. Nó gợi cho người đọc một không gian rợn ngợp, đây là cách thể hiện nổi bật cho phong cách thơ Huy Cận. Tâm trạng nhà thơ được mở ra “buồn điệp điệp”. Đây là nỗi buồn đang được cụ thể hóa, nó được hữu hình giống như từng đợt sóng dâng trào gối vào nhau, cứ thế không ngớt vỗ vào bờ. Nỗi buồn ấy dai dẳng mà âm ỉ, như có sự tồn tại vĩnh cửu. Từ “song song” như nói đến hai thế giới đứng cạnh nhau mà không bao giờ gặp nhau. Đó là sự gần gũi mà lại chẳng có sự gặp gỡ. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô độc của con thuyền trên dòng sông, hay chăng đó cũng chính là sự đơn lẻ của con người bên dòng đời. Nhà thơ Huy Cận đã sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập tạo nét cổ kính cho khổ thơ. Theo quy luật thuyền và nước là hai sự vật gắn bó mật thiết, nhưng trong bài thơ lại có hành động trái chiều, lạc nhịp gợi sự xa cách, gợi cảm giác cô đơn, mất mát:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Hình ảnh cành củi khô táo bạo và độc đáo trong thi ca Việt Nam. Đó là hình ảnh có một không hai. Huay Cận đã thả vào Thơ mới một cành củi khô để nói hộ tấm lòng cả một thế hệ Thơ mới. Bởi vì, xưa nay những vật tầm thường ít được đặt vào thơ, đặc biệt là thơ cổ, hình ảnh củi khô mang vẻ đẹp giản dị, đời thường nhưng lại có giá trị biểu đặt ghê gớm. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ, sử dụng chắt lọc các từ đơn, khiến câu thơ như bị dập gãy, vơ vụn. & tiếng trong một câu thơ mà vỡ thành 6 mảnh cô đơn, sự cô đơn của cành củi khô với sự vô tận của dòng nước.

Cảnh vật vắng vẻ, cô quạnh ở khổ thơ thứ hai, tầm nhìn đã được mở rộng hơn:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nằng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Tác giả sử dụng từ “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi sự xuất hiện ít và thư thớt, cảm giác của con người thoáng buồn khi đứng trước tầm nhìn rộng. Đây là sự cảm nhận bằng thị giác. Bên cạnh đó, tác giả còn có sự cảm nhận bằng thính giác: cảm nhận về âm thanh cuộc sống tiếng chợ chiều. Cảnh vật như thiếu vắng hơi ấm của cuộc sống con người, cần lắm tìm đến sự tri ân. Từ “đâu” mang nhịp chậm, giọng buồn nhuốm sầu. Không gian được thắp lên màu nắng, tăng thêm cả về chiều rộng, độ cao, chiều sâu. Từ đó tác giả đã gợi ra một không gian từ mặt nước đến đáy sông, không gian được đẩy đến tận cùng, khắc họa nỗi buồn, cô đơn của con người trước cuộc đời. Tác giả như không tìm thấy sợi dây liên hệ với cuộc đời, mang đến sự vô vọng.

Hai khổ thơ đầu bài “Tràng giang”, tác giả Huy Cận đã gợi ra cả không gian rợn ngợp, nhưng tâm trạng của con người lại mang cảm giác sầu buồn, cô đơn, nỗi buồn như trải dài vô tận. Đó là sự cô đơn, lẻ loi của con người trước dòng đời, và không tìm thấy sự giao cảm của bản thân với cuộc đời.

Cảm nhận 2 khổ đầu bài tràng giang

4. Nêu cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang mẫu 1

Là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, Huy Cận để lại cho kho tàng văn học Việt Nam rất nhiều tác phẩm đặc sắc. Bài thơ “Tràng Giang” được ông viết trong thời kỳ trước cách mạng với một nỗi u buồn, sự bế tắc của một kiếp người, trôi nổi lênh đênh không bến đỗ. Nỗi buồn ấy được thể hiện rõ nét ngay trong 2 khổ thơ đầu.

Mở đầu bài thơ, Huy Cận cho người đọc thấy được những hình ảnh rất đỗi quen thuộc: sóng, con thuyền, dòng sông để gợi nên cảm xúc:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Tác giả khéo léo sử dụng âm Hán Việt “ang” cho danh từ “tràng giang” gợi một không gian rộng lớn, rờn ngợp. Đây cũng là một trong những phong cách làm thơ rất nổi bật của Huy Cận. Lúc này, tâm trạng của nhà thơ trở nên “buồn điệp điệp” – nỗi buồn được cụ thể hóa, được ví như từng đợt sóng dâng trào gối vào nhau, liên tiếp vào bờ. Nỗi u buồn ấy dường như tồn tại vĩnh cửu, cứ âm ỉ và dai dẳng mãi trong lòng tác giả. Từ láy “song song” như muốn nói đến hai thế giới, dù luôn gần gũi ở bên nhau nhưng chẳng bao giờ được gặp nhau.

Thông qua 2 câu thơ, tác giả đã cho chúng ta thấy được sự cô độc, đơn lẻ của con thuyền trên dòng sông, ẩn dụ cho hình ảnh cô độc của con người trên dòng đời. Huy Cận đã thành công sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để tạo nên nét cổ kính cho câu thơ. Con thuyền và dòng nước luôn gắn bó mật thiết với nhau, nhưng qua cách thể hiện của nhà thơ chúng lại có hành động trái chiều, lạc nhịp gọi cảm giác cách xa, cô đơn,

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Có lẽ Huy Cận là người đầu tiên sử dụng hình ảnh cành củi khô trong lời thơ của mình, một hình ảnh độc đáo và táo bạo. Tác giả muốn cho mọi người thấy những nét phá cách trong phong trào thơ mới, khi mà trước đây những vật tầm thường rất ít được cho vào. Hình ảnh củi khô đời thường với một vẻ đẹp giản dị lại có một giá trị biểu đạt ghê gớm. Huy Cận khéo léo sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ và chọn lọc những từ đơn để miêu tả sự cô đơn của cảnh củi khô lênh đênh trong sự vô tận của dòng nước.

Trong khổ thơ thứ 2, tác giả miêu tả cảnh vật cô quạnh, vắng vẻ với không gian mở rộng:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Các từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi nên sự nhỏ bé, ít ỏi giữa một không gian mênh mông vô tận – đây chính là sự cảm nhận bằng thị giác. Ngoài thị giác thì tác giả còn có những cảm nhận bằng thính giác với những âm thanh của cuộc sống với tiếng làng xa vãn chợ chiều. Màu nắng chiều cùng với cảnh vật sông dài, trời rộng, bến thuyền cô liêu càng khắc họa nỗi cô đơn, nỗi buồn của con người trước cuộc đời. Người đọc có thể dễ dàng cảm nhận thấy sợ vô vọng của tác giả khi không thể tìm thấy sợi dây liên hệ nào với cuộc đời.

Hai khổ thơ đầu bài “Tràng Giang” của tác giả Huy Cận mang đến một không gian rợn ngợp với nỗi buồn và sự cô đơn trải dài vô tận. Một sự lẻ loi, đơn côi của con người trước dòng đời, không tìm thấy sự kết nối với thế giới ngoài kia. Cũng có lẽ vì vậy mà tác phẩm luôn được nhiều độc giả yêu thích, không bị bụi của thời gian phủ mờ.

5. Bài cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang mẫu 2

Phong trào thơ mới chứng kiến sự đột phá của rất nhiều thi sĩ nổi tiếng với hàng ngàn tác phẩm tuyệt vời. Trong đó, chúng ta không thể bỏ qua tác phẩm “Tràng Giang” được sáng tác dưới ngòi bút của Huy Cận. Với sự kết hợp giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, cùng câu từ đơn giản nhưng tinh tế tác giả thành công khắc họa hình ảnh mông mông của thiên nhiên hùng vĩ, qua đó cũng thể hiện nỗi niềm u buồn chất chứa, sự bế tắc của một kiếp người trôi nổi, lênh đênh giữa dòng đời. Nổi bật phải kể đến 2 khổ thơ đầu đã để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

Bước vào bài thơ, khổ thơ đầu tiên nhà thơ đã cho người đọc thấy được một con sông chất chứa bao nhiêu nỗi buồn sâu thẳm:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Một loạt từ ngữ “buồn”, “xuôi mái”, “sầu trăm ngả”, “lạc mấy dòng” gợi cảm giác thê lương cùng từ láy “điệp điệp”, “song song” càng làm nỗi buồn trở nên mênh mông vô tận của tác giả trong thời thế có nhiều bất công.

Tác giả mượn hình ảnh con thuyền xuôi mái và đặc biệt là hình ảnh “củi khô” trôi một mình để người đọc thấy rõ sự đơn độc. Nét chấm phá cổ điển xen lẫn nét hiện đại được thể hiện rõ nét, gợi tả câu thơ đầy ám ảnh với một dòng sông dài, mang nét đẹp trầm tĩnh, u buồn khiến người đọc cảm thấy thật thê lương.

Theo quy luật thì thuyền và nước là hai thứ không thể nào tách rời nhau, thuyền nhờ nước mới có thể trôi. Thế nhưng trong câu thơ tác giả viết “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, câu thơ là một uẩn khúc hay là một sự chia lìa không hề báo trước? Dù là ý nghĩa nào thì người nghe cũng cảm thấy quạnh lòng xót xa. Trong khung cảnh mênh mông sông nước có một nỗi buồn đến tận cùng. Hình ảnh “củi khô” xuất hiện cuối câu thơ là điểm nhấn của khổ thơ gợi lên sự bé nhỏ, mỏng manh, đơn chiếc, trôi dạt khắp nơi mặc cho dòng nước đưa đẩy. Câu thơ như muốn nói về một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, lận đận giữa cuộc sống với bộn bề lo toan, tính toán.

Dường như nỗi hiu quạnh đó được Huy Cận tăng lên gấp bội trong khổ thơ thứ 2

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Một làng quê thiếu sức sống hiện lên với cồn cỏ lơ thơ, hiu quạnh trước gió, khiến người đọc không khỏi nặng lòng khi nghĩ đến. Ngay cả phiên chợ chiều vốn nơi xa cũng không thể nghe thấy tiếng ồn ào, hay có khi nào phiên chợ đó cũng vắng lặng đến buồn hiu. Từ “đâu” cất lên thật thê lương và không điểm tựa để bấu víu, nó là một câu hỏi tu từ gợi lên bao nỗi niềm chất chứa. Chẳng biết là tác giả đang hỏi người hay là đang tự hỏi bản thân mình. Khung cảnh hoang sơ, tiêu điều nơi bến nước không tiếng động, không bóng người sao thật chua xót quá.

Sự mênh mông vô định của thiên nhiên được tác giả đặc tả bằng hình ảnh trời và sông. Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”, lúc này chúng ta có thể thấy được nét tài tình và độc đáo cả thi sĩ khi lấy chiều cao để đo chiều sâu. Giữ không gian sông nước mênh mông và tác giả kết thúc đoạn thơ bằng một chữ “cô liêu” dường như đã lột tả hết nỗi buồn rầu, cô đơn từ sâu thẳm tâm hồn mà không biết ngỏ cùng ai.

Khép lại hai khổ thơ đầu ta như thấy được giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, nỗi sầu nhân thế của tác giả dừng như chiếm trọn tâm trí. Đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và sự cô đơn, hiu quạnh của tác giả chẳng biết gửi vào đâu, chỉ biết chất chứa đong đầy trong trái tim.

6. Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài Tràng Giang mẫu 3

Huy Cận tưởng như đã đem hồn thơ với nỗi buồn thiên cổ đầy sầu mộng của mình để lượm lặt những nỗi buồn nhân thế mà đem vào trang thơ. Tràng Giang có thể nói là bài thơ thể hiện rõ nhất điệu hồn ấy của phong cách thơ Huy Cận. Đặc biệt hai khổ đầu bài thơ, là những nét vẽ vừa đẹp vừa thấm đẫm chút buồn man mác phủ lên toàn bộ cảnh vật.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Nỗi ám ảnh thời gian luôn vận động theo quy luật tuyến tính, một đi không trở lại đã khiến Xuân Diệu luôn vội vàng, cuống quýt trong từng nhịp điệu sống. Còn nỗi ám ảnh không gian đã mang vào trong thơ Huy Cận những thế giới rộng lớn, mênh mông sầu mộng của thi sĩ. Ở Tràng Giang cũng không phải là ngoại lệ, mở đầu bài thơ là hình ảnh sông dài với những đợt sóng buồn điệp điệp nối đuôi nhau. Cái hay ở đây, là cách nhà thơ dùng từ “tràng giang” để gọi nó, nó gợi màu sắc cổ điển, vì thế con sông trong thơ Huy Cận dường như gọi về bao nhiêu nỗi niềm xưa, bao nhiêu dấu rêu phong, bao nhiêu những con sông hoàng hà cổ đại, từ đó chảy trên dòng thời gian bất tận để đưa người đọc xuôi dòng về hiện thực. Thuyền và nước, nỗi niềm của sự chia rẽ được thể hiện rất rõ trong nỗi sầu ở câu thơ thứ ba. Nỗi sầu của dòng sông, nỗi buồn man mác của dòng chảy bất tận về muôn ngã rẽ, mang theo nỗi lòng của mình để hướng về muôn nơi, sự chia cắt của thuyền và nước, tưởng như là sự chia cắt của lòng người khiến cho sự vật cũng như tan tác, chia li. Câu thơ thứ tư, mới thực là sự đắc địa và cẩn trọng trong cách chọn từ của Huy Cận. Củi, đã là sự vật gợi sự khô héo, tàn lụi, thậm chí là mất dần sự sống. Tiếp đến, lượng từ “một’ gợi sự đơn lẻ đơn độc và lạnh lẽo trên dòng sông bất tật, thế nhưng không chỉ một mình, đơn độc mà cành củi ấy còn vô phương vô định lưu lạc về chân trời nào. Ở đây có thể thấy, Huy Cận đã đưa vào trong thơ những chất liệu từ đời thực, những chất liệu sống để diễn tả một cách chân thực, mộc mạc nhất sự cô đơn, mất phương hướng thậm chí là bế tắc của chính tác giả, hay của những cái tôi thơ Mới lúc bấy giờ. Nếu trong Tràng Giang, Huy Cận mượn cành củi khô để diễn tả tình cảnh lưu lạc, hoang hoải trong tâm hồn của những cái tôi thơ mới, thì Xuân Diệu cũng từng viết:

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”.

Rõ ràng, Huy Cận đã đưa vào thơ một cách trần trụi rất riêng những chất liệu của đời sống.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Thiên nhiên một lần nữa xuất hiện trong thơ nhưng chỉ là những cảnh vật gợi sự khô héo, đìu hiu tàn lụi. Những cồn nhỏ như đang nương vào cơn gió để khe khẽ kể về nỗi buồn của mình. Và ngọn gió, dường như cũng mang trong nó nỗi buồn man mác của cảnh vật mà hồn thơ âu sầu ảo não của Huy Cận đã họa thành. Tiếp đến, chợ vốn là là hình ảnh của không gian sống, là biểu tượng của cuộc sống nhộn nhịp, đông đúc. Nhưng chợ ở đây, cũng là chợ chiều đã vãn. Cảnh vật héo buồn, sinh hoạt và cuộc sống của con người cũng đi dần vào thế nghỉ ngơi, vào sự buồn bã hiu quạnh. Hai câu thơ cuối có thể nói là tuyệt bút nên thơ của Huy Cận, cách dùng từ độc đáo của thi nhân đã lột tả một cách chính xác cảm giác của nhân vật trữ tình khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn. Những chuyển động đối lập nhau : lên-xuống cùng với cách tạo vế đối nắng xuống, trời lên tạo cảm giác như một chiếc tù giam lỏng dồn nén con người ở giữa cảm thấy ngột ngạt, bí bách và chán chường trong sự vận động xoay guồng của tạo hóa. Sâu chót vót là cụm từ độc đáo, vừa diễn tả độ sâu, vừa diễn tả độ cao, vừa tạo cảm giác mở về sự cảm nhận của người đọc. Và rồi tiếp nối mạch cảm xúc ấy, là cảm giác cô liêu, cô đơn đến cùng cực của con người giữa sông dài trời rộng, giữa sự vô tận.

Chỉ với 8 câu thơ, Huy Cận đã yểm vào đó linh hồn cho từng câu chữ, để bắt cảnh vật sống dậy với chất buồn thấm đẫm trong từng thớ vỏ, đồng thời tạo nên cảm giác âu sầu ảo não vốn rất đặc trưng trong thế giới thơ Huy Cận.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
26 102.157
0 Bình luận
Sắp xếp theo