Top 4 bài cảm nhận về Hạnh phúc của một tang gia hay nhất

Cảm nhận đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” là một trong những bài thường gặp trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ các bài văn mẫu cảm nhận Hạnh phúc của một tang gia hay nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

Cảm nhận về Hạnh phúc của một tang gia để thấy được tài năng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng trong nghệ thuật tráo phúng đặc sắc. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia trong tác phẩm Số Đỏ đã cho người đọc thấy được sự tha hóa về nhân cách, sự lố bịch rởm đời của tầng lớp thượng lưu Việt Nam những năm 30 - 45 của thế kỉ XX.

1. Cảm nhận về Hạnh phúc của một tang gia - Vũ Trọng Phụng

Vũ Trọng Phụng (1912-1939) được xem là ông vua phóng sự đất Bắc, là một tiểu thuyết gia đệ nhất, là một nhà trào phúng bậc thầy. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng ông đã hoàn thành sự nghiệp của một thiên tài. Tác phẩm của ông là những tiếng nói quyết liệt, phẫn uất với một xã hội vô nghĩa lý.

Tiểu thuyết Số đỏ là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông, đây là tiểu thuyết viết về đời sông thị dân trong cơn lốc Âu hóa, tác giả đã vạch ra cái văn minh dởm, cái lố lăng và bản chất bịp bợm, dâm ô, đểu cáng, bất nhân của xã hội thượng lưu cùng trưởng giả và thành thị. Nổi bật lên trong tiểu thuyết Số đỏ là đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, đoạn trích bằng nghệ thuật trào phúng, nhà văn đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị những năm trước cách mạng. Đoạn trích đã tạo được một mâu thuẫn trào phúng bao trùm lên, trên cơ sở đó nhà văn đã xây dựng nên những chân dung trào phúng đả kích thật thích đáng.

Nhan đề Hạnh phúc của một tang gia là một nghịch lý đầy ý vị, chua cay. Tang gia là gia đình có tang, ở đây là đại tang tất phải đau thương, buồn thảm. Ấy vậy mà đám tang này lại hạnh phúc, cái gia đình tam đại đồng đường này khi cụ tổ tám mươi tuổi chết đã khiến cho lũ con cháu sung sướng lắm! Tác giả đã xây dựng thành công một tình huống điển hình để phơi bày những bộ mặt đồi bại trong cái gia đình trưởng giả ấy, vạch trần những cặn bã, những quái thai của cái xã hội dở ta dở tây ấy. Cha chết, ông chết, bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thỏa thích, đây là dịp hiếm có để khoe của, khoe giàu, phô cái sang ra cho thiên hạ biết. Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân... Niềm vui tràn ngập tang gia ai cũng vui vẻ cả. Người con trai cả là cụ cố Hồng hút liền một lúc một chặp sáu mươi điếu thuốc phiện, hả hê lim dim đôi mắt.

Bữa nay, cha chết, cụ cố vui vẻ lắm, nhưng thằng bồi tiêm vẫn còn đếm được một nghìn tám trăm bảy hai câu gắt: Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! trong cái dư vị êm ái của thuốc phiện. Cụ nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái giờ phút hạnh phúc nhất là lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải trầm trồ một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế, rồi ngạc nhiên chỉ trỏ: úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa. Con trai đã báo hiếu cha như vậy! Đó là một nét biếm họa thần tình. Tâm hồn sa đọa, đạo lý suy đồi đến cùng cực, từ cha đến con. Hai đứa cháu nội của cụ tổ xuất hiện giữa đám tang với bao nét kệch kỡm lố lăng, ông Văn Minh đi Tây du học sáu năm mà chẳng có một mảnh bằng nào cả, về nước hắn mở hiệu may để cổ vũ cho cái trò Âu hóa nhằm phô ra những bộ phận kín đáo của phái đẹp. Ông nội mất, đứa cháu quý hóa này nhăm nhăm nghĩ đến chuyện chia gia tài, thích thú ra mặt vì cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa.

Còn cậu Tú Tân thì mở cờ trong bụng, được dịp trổ tài bấm lách tách mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến, lúc đưa tang cậu lăng xăng chạy lên chạy xuống để mình dàn cảnh, lúc hạ huyệt cậu đạo diễn bắt bẻ từng người cách chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt thế này thế nọ để cậu bấm máy. Cậu luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng như một tên hề. Tác giả đã phác họa đám ma cụ tổ bằng nhiều nét hoạt kê, châm biếm sâu cay cái dởm đời của bọn thượng lưu tha hóa.

Một đám ma to tát, một đám ma gương mẫu cũng chẳng qua là một đám rước sách. Có kiệu bát cống lợn quay đi lọng, có lốc bốc xoảng và du bích. Có nhiều vòng hoa, ba trăm câu đối và vài trăm người đi đưa. Thật đúng là một đám ma theo cả ba lối ta - Tàu -Tây. Bởi thế nên bầy con cháu hạnh phúc, còn người chết cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu. Lấy cái phi lý để vạch trần cái lố lăng, đồi bại là một nét cực kì sắc sảo, độc đáo trong nghệ thuật trào phúng của tác giả. Có bao đám khách quý phái và trang trọng đến đưa ma cụ tổ, phụ nữ chiếm một nửa là trai thanh gái lịch, là bạn của cô Tuyết và bà Phó Đoan. Họ đến đưa ma là để cười tình với nhau, bình phẩm lẫn nhau, chê bai nhau, và cả hẹn hò nhau. Bọn mày râu, bạn của cụ cố Hồng đến đưa tang để khoe mẽ ngực đầy những huân huy chương của nước mẹ hay của bọn bù nhìn ban phát cho. Khi đặc tả bộ râu của đám quan khách này, nhà văn đã sáng tạo nên những chi tiết, ngôn từ và giọng điệu trào phúng chua cay. Một lối nói nhạo, chế giễu thật thân tình, trên mép và cằm của các ông trưởng giả khoe tài khoe đức ấy đếm đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, đen hoặc hung, lún phún hoặc rầm rậm.


Người đọc phải bấm bụng mà cười khi đọc đoạn văn miêu tả những bộ râu ấy. Đằng sau những bộ râu kia là những bộ mặt người tha hóa vô luân. Tác giả đã sử dụng sáng tạo thủ pháp phục bút khi tả sự xuất hiện của Xuân Tóc Đỏ. Cô Tuyết mặc bộ đồ ngây thơ đi mời trầu và thuốc lá quan khách với vẻ mặt buồn lãng mạn rất đúng với không khí của một nhà có đám. Cô vô cùng sung sướng khi thấy anh Xuân đã đến bên liếc mắt đưa tình để tỏ ý cảm ơn. Xuân Tóc Đỏ đã đến đưa đám một cách cực kì sang trọng, với sáu chiếc xe, với sư chùa Bà Banh, cùng sư cụ Tăng Phú. Hai vòng hoa lớn đã khiến cho cụ bà sung sướng kêu lên: Ấy! Giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi! Xuân chẳng giận ai lại còn đến phúng viếng rất to, làm cho đám ma cụ tổ trở nên danh giá hơn tất cả.

Tóm lại, qua toàn khung cảnh trong tác phẩm, tác giả Vũ Trọng Phụng đã thể hiện xuất sắc tài kể chuyện và nghệ thuật hoạt kê trong miêu tả. Cái tài của tác giả đã phóng đại bức chân dung biếm họa, những cảnh đời lố lăng theo thủ pháp nghệ thuật trào phúng khiến cho người đọc lẫn người nghe phải cười và cũng thấy được bao sự thật chứa đựng ở bên trong. Chuyện kể đầy kịch tính với bao sự phi lý đến ghê người đã lật tung mặt nạ của bọn đạo đức giả. Tiếng cười vang lên trong tác phẩm là tiếng cười châm biếm có giá trị tố cáo và mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Tiếng cười ấy đã phơi bày tất cả những bản chất lố lăng xen lẫn sự đồi bại của cái xã hội nhuộm màu sắc Âu hóa kệch cỡm ấy.

2. Cảm nhận về Hạnh phúc của một tang gia Vũ Trọng Phụng - mẫu 2

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo của Vũ Trọng Phụng. Khối căm ghét của ông đối với xã hội thối nát không còn là một lời chửi rủa tuyệt vọng nữa mà nổ ra thành một trận cười sảng khoái, có sức công phá mạnh mẽ tung vào giữa những cái lố bịch, kệch cỡm của xã hội đương thời.

Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào, đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn. Đặc biệt nhất là chương Hạnh phúc của một tang gia.

Ý nghĩa châm biếm gửi cả trong cái tên của chương truyện. Một gia đình có tang, thậm chí đại tang ắt phải tiếc thương, sầu não đến bực nào, ấy vậy mà lại hạnh phúc?! Mới nghe có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm kĩ trong hoàn cảnh cụ thể của gia đình này thì điều ấy lại chân thực, hợp lí.

Ở đám tang cụ Tổ, ai cũng vui như tết con cháu, cháu chắt, họ hàng thân thích, người quen biết,... cũng thấy đây là một dịp may hiếm có để mình thỏa mãn một nguyện vọng, hay một ý đồ nào đó. Vũ Trọng Phụng vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch của những hạng người mang danh là thượng lựu, quý phái, văn minh tân tiến nhưng thực chất là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Trong chương này, tác giả đã xây dựng thành công một tình huống điển hình để bộc lộ những tính cách đặc sắc. Trước hết phải nói đến thái độ của những kẻ có quan hệ ruột rà với cụ Tổ. Cái chết của cụ chẳng làm cho đứa con, đứa cháu nào tiếc thương bởi đã từ lâu, họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Ngược lại, cái chết của cụ đã đem đến cho họ một niềm vui to lớn không che giấu nổi - một hạnh phúc: Cái chết đã làm cho nhiều người sung sướng lắm. Bọn con cháu vô tâm cũng vui sướng thỏa thích... Người ta tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám tang... Tang gia ai cũng vui vẻ cả...

Cậu Tú Tân, cháu nội cụ Tổ rất hào hứng, phấn khởi vì cậu có dịp trổ tài và sử dụng mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ được mặc đồ xô gai tân thời và đội cái mũ mấn trắng viền đen... để quáng cáo cho một kiểu đồ tang mới lạ. Còn người con trai của cụ Tổ sung sướng vì một lý do khác lớn hơn. Cụ Cố Hồng mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kìa kìa.

Văn Minh (cháu nội), đã từng du học tận bên Tây bao năm, về nước không có nổi một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) thì khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia thêm một số tiền vài trăm nghìn đồng. Chính ông không ngờ rằng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến thế! Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt, xuyên suốt hoạt cảnh này.

Đám ma rất to, to chưa từng thấy ở đất Hà Thành xưa nay. Có đủ cả kiệu bát cống, lợn quay... đi lọng, vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa phúng điếu, vài trăm người đi đưa nghiêm nghị thành kính đi sát ngay sau linh cữu cụ Tổ trong đủ thứ tiếng kèn huyên náo kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu, có cả âm thanh chói tại, rộn rã của lốc bốc xoảng và bu-xích...

Đám ma trở thành dịp may hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo Âu hóa mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh - sản phẩm độc đáo của nhà thiết kế mĩ thuật Typhono. Đó là cô Tuyết với bộ y phục ngây thơ khá hở hang với nét mặt cố tạo một vẻ buồn lãng mạn, rất đúng mốt một nhà đám, khiến cho bao nhiêu vị khách đàn ông khi trông thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết phải xúc động còn hơn nghe tiếng kèn đám ma. Đó là bộ đồ tang đã được cách tân của vợ Văn Minh làm cho mọi người phải xuýt xoa, trầm trồ...

Ngoài những thân nhân của người quá cố phải nói đến đám bạn bè, quan khách của tang chủ, những kẻ đi đưa đám không phải để chia buồn mà cố khoe các thứ huy chương, mề đay đeo đầy ngực và các kiểu râu ria tân thời nhất. Hoặc là đám phụ nữ quí phái, đám giai thanh gái lịch đang đeo đuổi, học đòi phong trào Âu hóa, vừa đi đưa ma vừa cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau... Và mỉa mai thay, họ làm tất cả những điều đó bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma. Điều đó chứng tỏ họ hoàn toàn dửng dưng với người chết, tất cả đều thản nhiên, vui vẻ và dối trá.

Người dân hai bên đường đổ xô ra xem đám ma như xem một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức sung sướng và hàng phố nhốn nháo cả lên khen đám ma to. Nhà văn lạnh lùng bình luận: Đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Thật là mỉa mai, chua chát!

Đằng sau cái phô trương, cố làm ra vẻ long trọng, danh giá ấy là sự rởm đời đến mức lố lăng, là thói háo danh vô lí, của bọn người giàu sang, hãnh tiến và vượt lên tất cả là thói đạo đức giả, tự lừa mình và lừa người mà xã hội thời ấy mặc nhiên công nhận.

Song song với việc mô tả hình thức đám ma với đủ các nghi thức trọng thể, Vũ Trọng Phụng không quên đi sâu thể hiện, phanh phui mặt trái của nó. Ngòi bút sắc sảo của nhà văn trưng lên liên tiếp những bức biếm họa trước mắt người đọc, để rồi giúp người đọc nhận ra rằng cái đám ma to tát ấy chỉ thiếu một cái duy nhất mà cũng quan trọng nhất của đám ma - đó là tình người. Thiếu lòng thương tiếc chân thành đối với người đã khuất thì tất cả những hình thức lòe loẹt, om sòm kia đều trở thành vô nghĩa, thành trò cười cho thiên hạ. Những kẻ có mặt trong đám ma giống nhau ở chỗ đều giả dối và vô đạo đức.

Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, đẩy sự lố lăng, dị hợm của đám ma cụ Tổ lên tới đỉnh cao. Hắn chọn đúng lúc để có mặt, trước sự chú ý của mấy trăm con người và gây ấn tượng mạnh với hai vòng hoa đồ sộ, sáu chiếc xe kéo sang trọng và một đám sư, cùng loại sư của báo gõ mõ. Điều này khiến cho cụ Phán bà càng thêm sung sướng: giá không có món ấy thì là thiếu chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi, và cô Tuyết người yêu của hắn cũng phải cảm động mà liếc mắt đưa tình với hắn.

Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Nó được dàn dựng như một vở kịch mà bàn tay đạo diễn quá ư lộ liễu, trắng trợn. Cậu Tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt... để cậu chụp ảnh, trong khi bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mả mà chụp để cho ảnh khỏi giống nhau. Chất bi hài của cảnh khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng. Ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt: Hứt! Hứt! Hứt!... Ông thương cho người đã khuất chăng? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mặt mọi người. Thực ra ông ta rất mừng vì cụ Tổ chết và ông được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ bạc năm đồng gấp làm tư để trả công hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước người nhà vợ. Và cũng nhờ đó mà ông có thêm được món tiền lớn.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng bộc lộ xuất sắc tài kể chuyện của mình. Bút pháp của Vũ Trọng Phụng giỏi ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, làm cho mọi việc đều như thật và hơn thật. Ông chú ý đến các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, khai thác triệt để nhằm gây nên những tràng cười có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch sinh động hay như một bức biếm họa khổng lồ và chi tiết về cái xã hội tự cho là thượng lưu, sang trọng ở Hà Nội thời đó đang phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại của nó.

3. Cảm nhận về Hạnh phúc của một tang gia Vũ Trọng Phụng chi tiết

Mở bài:

Vũ Trọng phụng là cây bút phóng sự, nhà tiểu thuyết lớn nhất của nền văn học Việt Nam nửa đầu thé kỉ XX. Sinh thời, Vũ Trọng Phụng lên án văn chương lãng mạn, thoát li thực tế, khẳng định văn học hiện thực: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng với tôi coi tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Tư tưởng, nội dung đó thống nhất từ quan điểm nghệ thuật tới tác phẩm. Rõ ràng nhất là trong tiểu thuyết Số đỏ, một tác phẩm kiệt xuất của Vũ Trọng Phụng.

Thân bài:

So với nhiều nhà văn hiện thực đương thời, thế giới nhân vật của Vũ Trọng Phụng khá phong phú, đa dạng. Đó không chỉ là thế giới của những người nông dân quanh năm chỉ biết “Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” như trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hay một xóm nhỏ ngoại ô thành thị đang kéo dài kiếp sống đơn điệu “Sống mòn” như trong tác phẩm của Nam Cao. Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét: “Đọc Vũ Trọng Phụng, thấy ông có một khả năng chiếm lĩnh cuộc sống ở một tầm khái quát tổng hợp ít có những nhà tiểu thuyết cùng thời”.

Cuốn tiểu thuyết tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng chính là Số đỏ. Xuân tóc đỏ chính là “con đẻ” của xã hội thành thị nhố nhăng, thối nát đương thời. Xuân tóc đỏ vốn chỉ là một đứa trẻ mồ côi, vô học, sống bằng nghề trèo me, trèo sấu, bán phá xa, nhặt ban ở sân quần vợt, chạy cờ rạp hát… Xuân tóc đỏ được nhận xét là “Hoàn toàn vô giáo dục song tinh quái lắm, thạo đời lắm”. Hắn tình cờ lọt được vào mắt xanh của một me tây dâm đãng như bà Phó Đoan, kiếm được việc làm ở tiệm may Âu hóa rồi từng bước đặt chân vào xã hội thượng lưu. Vận may liên tục đến với hắn một cách bất ngờ và rồi từ một kẻ lưu manh, vô học hắn đạt tột đỉnh vinh quang, được xưng tụng với những cái tên mĩ miều như “ông đốc-tờ Xuân”, “nhà cải cách xã hội”, “giáo sư quần vợt”, “anh hùng cứu quốc”, “vĩ nhân”.

Không thể phủ nhận vận may bất ngờ đã đến với Xuân nhưng thử hỏi tại sao trong một thời gian nhanh chóng như vậy, Xuân đã trở thành “vĩ nhân”, xâm nhập trót lọt vào xã hội thượng lưu? Là bởi xã hội ấy sẽ sản sinh ra những con người như hắn. Bởi là một mụ me Tây dâm đãng nên bà Phó Đoan đã tìm cách lôi Xuân ra khỏi bót cảnh sát. Với cái tài thổi loa quảng cáo thuốc lậu nó dễ dàng thành công ở tiệm may Âu hóa.

Cụ thể hơn, ta khai thác đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, Xuân bỗng trở thành ân nhân của gia đình cụ cố Hồng khi hắn công khai trước mặt mọi người: Ông Phán – chồng cô Hoàng Hôn là “một người chồng mọc sừng” gây ra cái chết của cụ cố tổ. Tiếng cười xuất hiện ngay từ nhan đề đoạn trích – Hạnh phúc của một tang gia. Người ta vẫn nói tang gia là bối rối, song hai chữ “hạnh phúc” đã nói lên tâm trạng của tất cả các thành viên trong gia đình này, nó trái ngược hoàn toàn với những điều người ta vẫn nghĩ về một đám ma.

Hai chữ “hạnh phúc” cũng thay đổi tính chất của đám ma, biến đám ma trở thành một đám rước, nó biến câu chuyện thương tâm trở thành ngày hội vui sướng, hả hê. Mỗi thành viên trong gia đình đều đã có một niềm “hạnh phúc riêng”. Cụ cố Hồng “mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để thiên hạ phải chỉ trỏ: “úi kìa, con giai lớn đã già đến thế kia kìa”. Ông Phán mọc sừng hả hê khi nhận thấy giá trị của đôi sừng hươu vô hình trên đầu mình. Ông Văn Minh hạnh phúc bởi từ nay “cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”.

Những người như cô Tuyết, bà Văn Minh có dịp trưng diện những bộ đồ mới nhất của tiệm may Âu hóa. Cậu Tú Tân có cơ hội để thể hiện tài năng của một nhiếp ảnh gia. Tất cả gia đình đều “nhao lên mỗi người một cách”. Sự giả dối, đại bất hiếu được phơi bày rõ nét khi Xuân trở thành ân nhân của gia đình ấy. Ông Văn Minh vò đầu bứt tai không biết xử trí với Xuân tóc đỏ ra sao khi hắn đã “tình cờ gây ra cái chết của một ông cụ già đáng chết”, “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to”; Ông Phán mọc sừng muốn trù tính với hắn một cuộc doanh thương.

Trong đám tang, Tuyết đã liếc mắt với Xuân để tỏ ý cảm ơn. Nhưng sự bất nhân, cạn kiệt tình người không chỉ dừng lại ở đây khi niềm hạnh phúc còn tới với những người ngoài gia đình. Ông TYPN sẽ được trình làng bộ sưu tập mới nhất, cảnh sát Min-đơ, Min-toa thoát khỏi cảnh thất nghiệp, hàng phố có cơ hội xem một “cái đám ma to”, bạn bè của ông cụ cố Hồng có dịp khoe khoang sự oai vệ, danh giá của mình.

Đám ma trở thành một ngày hội của cả khu phố: “Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy”, “Kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên. Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh song le sự thật thì vẫn thì thầm với nhau chuyện trò về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may”…

Sự vô liêm sỉ, bất nhân bất nghĩa của đám con cháu trong gia đình cụ cố Hồng đã lan tới cả xã hội thượng lưu. Vũ Trọng Phụng đã thực hiện đúng mục đích sáng tác của mình, đó là “tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa, dâm đãng của bọn người nhiều tiền…”. Xã hội ấy chính là điều kiện thuận lợi để Xuân tóc đỏ từng bước leo lên bậc thang danh vọng.

Có thể nói, Vũ Trọng Phụng đã dùng lối vẽ cường điệu, phóng đại nhưng không hề vô lí. Ông đã giải quyết mối quan hệ “Giữa cái ngẫu nhiên và cái tất yếu, giữa cái vô lí và có lí, giữa cái may rủi cá nhân với cái mang tính quy luật của xã hội bát nháo lừa lọc đương thời” . Dẽ dàng nhận ra điểm tương đồng của xã hội thượng lưu trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và Ban-zắc. Con người quay cuồng trong thế giới của đồng tiền, mọi giá trị bị đảo lộn, tình cha con, đạo nghĩa chỉ như thứ “ảo mộng”.


Với quan điểm nhất quán và tài năng hiếm thấy, Vũ Trọng Phụng đã xây dựng Xuân tóc đỏ trở thành một nhân vật điển hình. Đối chiếu với kiểu nhân vật điển hình đã phân loại, Xuân tóc đỏ thuộc kiểu nhân vật thuộc tầng lớp dưới bị tha hóa nhân phẩm. Và điểm riêng của Xuân so với kiểu nhân vật khác là ở chỗ: Xuân tóc đỏ không được coi là nạn nhân của hoàn cảnh mà vận dụng triệt để cơ hội, vận đỏ của mình để tiến thân. Không những vậy, Xuân tóc đỏ còn khiến cho nhiều nhân vật cũng tha hóa như hắn.

Ở hình tượng ấy, có sự kết hợp giữa tính khái quát và nét cá thể, độc đáo. Ngay từ những chương đầu tiên trong tác phẩm, có thể nhận thấy Xuân tóc đỏ mang bản chất của kẻ lưu manh, bịp bợm. Dễ dàng có thể nhận ra chân dung hắn trong những câu cửa miệng của hắn “nước mẹ gì”, “mẹ kiếp”, ở hành động khoét một lỗ phên nứa để nhìn trộm bác gái tắm khi lên 9 tuổi, ở cái cách “cướp giật ái tình” một cách sỗ sàng với cô hàng nước mía, bà mệnh phụ….

Trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, dù không xuất hiện nhiều nhưng Vũ Trọng Phụng đã đan cài một số chi tiết đắt giá thể hiện bản chất lưu manh của hắn. Ở cuối đoạn trích, ông Phán mọc sừng dúi vào tay nó một tờ giấy bạc năm đồng gấp tư, “Nó nắm tay cho khỏi có người nom thấy rồi tìm sư cụ Tăng Phú lạc trong đám ba trăm người đương buồn rầu và đau đớn về những điều sơ suất của khổ chủ”.


Dù đã trở thành ông đốc tờ Xuân được mọi người tung hô, nhưng Xuân vẫn giữ sự tinh ranh, lưu manh. Hành động của kẻ giết người nhận đồng tiền dơ bẩn ngay trên miệng huyệt của kẻ quá cố đã tố cáo bản chất trơ trẽn, vô liêm sỉ. Có thể nói Xuân được độc giả nhớ tới còn bởi những nét rất riêng. Xuân là một cá tính độc đáo trong văn học bởi mái tóc đỏ hay chính là hậu quả do hoàn cảnh sống để lại “…Mẹ kiếp, chứ xưa nay có mũ bao giờ mà tóc chẳng đỏ”, bởi câu nói cửa miệng sặc mùi hạ lưu của nó, bởi cách mà Tuyết liếc mắt đưa tình với nó trong đám ma cụ cố…

Ở hình tượng Xuân tóc đỏ, ta cũng thấy được sự tác động của hoàn cảnh đến tính cách nhân vật. Vốn là một kẻ hạ lưu, chân ướt chân ráo bước vào xã hội thượng lưu, Xuân đã nhận ra: “Thời này biết làm sao được! Giả dối hết thay, tân thời cũng giả dối, hủ lậu cũng giả dối”. Từ chỗ bị động, bỡ ngỡ, Xuân tiến lên chủ động khai thác cơ hội, tận dụng mọi cơ may. Từ chỗ tình cờ gây ra cái chết cho cụ cố tổ trong đoạn trích, Xuân được cả gia đình thượng lưu đó tung hô, hắn “tự tin” khi đến đám ma với những nghĩa cử che mắt thiên hạ “Xuân tóc đỏ cắt đặt đâu vào đấy rồi mới xuống chỗ những người đi đưa”, “cầm mũ đứng nghiêm trang một chỗ, bênh cạnh ông Phán mọc sừng”.

Vũ Trọng Phụng đã lựa chọn kiểu không gian có tính điển hình. Đó là đô thị rộng lớn, là nơi diễn ra nhiều cảnh “chướng tai gai mắt”. Ở không gian ấy, các nhân vật “làm tròn” vai diễn của chúng. Trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, các nhân vật sinh hoạt chủ yếu trong không
gian nhà cụ cố Hồng, không gian ngày càng mở rộng theo bước di chuyển của cỗ xe tang. Sự cạn kiệt tình người, thói dâm đãng… vì vậy mà cũng càng lúc càng lan rộng ra trong xã hội tư sản thành thị.

Thời gian trong đoạn trích cũng không dài. Tất cả chỉ vẻn vẹn hơn một ngày tính từ thời điểm cụ cố tổ chết. Các sự kiện liên tiếp dồn dập tạo nên nhịp điệu gấp gáp, hối hả. Với cách lựa chọn thời gian ấy, Vũ Trọng Phụng gây ấn tượng về sự sơ sài, qua loa của đám tang – cách mà đám con cháu tưởng nhớ tới người đã mất.

Nghệ thuật xât dựng nhân vật điển hình của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ đã đạt đến trình độ bậc thầy. Với bút pháp trào phúng, hầu như không miêu tả nội tâm, sử dụng lối biếm họa trong đó cường điệu, phóng đại một vài nét nổi bật nào đó của đối tượng, làm chúng trở nên méo mó để gây cười, các nhân vật hiện lên sắc nét.

Chân dung của cụ cố Hồng – một kẻ đại bất hiếu và háo danh nổi bật với một nghìn tám trăm bảy mươi hai câu gắt trong lúc gia đình đương tang gia bối rối: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”; hình ảnh cụ “nhắm nghiền mắt lại và mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để thiên hạ phải chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”; lúc cụ ho khạc mếu máo và ngất đi ở chỗ hạ huyệt.

Ông Phán mọc sừng lộ bản chất vô liêm sỉ, trơ trẽn, tham lam khi muốn trù tính một vụ làm ăn với Xuân. Tiếng khóc “Hứt…hứt…hứt”, dáng “oặt người đi, khóc mãi không thôi” như đang diễn trò trên sân khấu càng khiến nhân vật lố bịch hơn. Nếu ở các chương khác trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã dùng nhiều chi tiết để tô đậm tính chất bịp bợm của Xuân tóc đỏ thì đến Hạnh phúc của một tang gia ông lại để Xuân gây ấn tượng với độc giả qua lời của các nhân vật khác, sử dụng một vài chi tiết đắt giá để bộc lộ tính cách nhân vật, như đã nói ở trên.

Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia được kể bằng điểm nhìn bên ngoài nhân vật. Người kể chuyện ở đây là tác giả đứng bên ngoài câu chuyện. Sử dụng điểm nhìn ấy, tác giả dễ dàng chêm xen các đoạn bình luận. Để tạo nên hiệu quả trào phúng, tác giả bình luận với lối nói ngược, nói mỉa “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu”, “Và còn rất nhiều câu nói vui vẻ, ý nhị khác nữa, rất xứng đáng với những người đi đưa đám ma”…Giọng điệu chung của đoạn trích là giọng mỉa mai, đả kích.

Kết bài:

Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” rất thành công với nghệ thuật tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác; phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc; thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa,… được sử dụng một cách linh hoạt. Nghệ thuật miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân vật. Văn bản là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi bại của một gia đình đồng thời phản ánh bộ mặt thật của xã hội thượng lưu thành thị trước Cách mạng tháng Tám.

4. Cảm nhận đoạn trích Hạnh Phúc Của Một Tang Gia

Bài làm

Ngay khi tiểu thuyết số đỏ được ra mắt với độc giả, đoạn trích hạnh phúc của một tang gia gây được nhiều hiệu ứng từ phía độc giả và người theo dõi bởi hơi hướng trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực, tái hiện lại xã hội và tầng lớp con người thời kì bấy giờ. Cây bút Vũ Trọng Phụng đã nhiều lần khiến cho người ta cười nhưng cười vì sự thật chua chát của một xã hội lai tây, không rõ văn hóa và tinh hoa được hòa trộn như thế nào, con người đối xử và suy nghĩ với nhau thông qua đồng tiền. Đoạn trích đã bộc lộ một cách chân thực nhất xã hội con người thời kì bấy giờ

Cái băn khoăn của độc giả, một dấu chấm hỏi lớn ngay từ nhan đề của đoạn trích. Đó là sự đối lập, đối lập một cách gay gắt mâu thuẫn từ hai phía “ hạnh phúc” và “ tang gia”. Theo lẽ thường tình, tang gia gắn với nỗi buồn vì mất mát đi người thân trong gia đình, nhà gặp điều chẳng lành, cái không khí tang thương đó không thể là hạnh phúc hay vui vẻ như tác giả đã nhắc vậy. Ấy vậy mà cái nhan đề không hề viết sai, cũng không phải là một câu nói đùa, nó chính là sự tóm lược cho cả một thế hệ, đại diện cho những thói đời đảo lộn.

Trong đoạn trích đám tang cụ tổ nhưng ai nấy đều lấy làm vui mừng và mong chờ, một dịp hiếm có để khoe mẽ và thỏa mãn những ý đồ của bản thân mình. KHông ai nói ra nhưng với vẻ mặt thỏa mãn và mơ màng từ cụ cố Hồng cho tới nỗi buồn lãng mạn của cô Tuyết thì không ai có thể phủ nhận rằng, từ già tới trẻ ai cũng đang ăn mừng trên cái chết của cụ Tổ

Vỏ bọc của một xã hội văn minh với những tầng lớp thượng lưu và học thức lại chất chứa những điều thối nát và ấu trĩ nhất. Ai cũng chăm chăm vào những vị kỉ của bản thân mà quên đi những lề thói tốt đẹp mà bao đời truyền lại, bao hàm cả giá trị đạo đức và chuẩn mực hành vi ứng xử của con người. Những niềm hạnh phúc nho nhỏ len lõi từ suy nghĩ cho tới hành động của các nhân vậtđược xây dựng một cách tỉ mỉ.

Con của cụ Tổ , cụ cố Hồng là người đầu tiên được nhắc đến, cụ mơ màng nghĩ đến lúc mình mặc bộ đồ đưa tiễn cha mình về nơi yên giấc ngàn thu, khóc mếu máo và cảm thấy vui mừng khi nghĩ được người đời chỉ trỏ bảo rằng đứa con có hiếu hay cụ cố Hồng đã già tới kia mà vẫn cố để đưa tiễn ông cụ tổ.

Nhân vật Xuân tóc đỏ là nhân vật chính xuyên suốt trong tiểu thuyết số đỏ của Vũ Trọng Phụng. Điều đáng nói, cái chết của cụ Tổ công lớn là nhờ vào hắn. Bởi nhờ hắn vạch tội ngoại tình của vợ Phán mọc sừng mà ông cụ Tổ lăn đùng ra chết. Người nhà dường như cảm ơn vì đã đưa cụ Tổ toại nguyện tâm ý và cả nhà vui mừng vì được một phen khoe mẽ. Hắn càng có công to hơn khi làm cho đám tang thêm phần “ hoành tráng” bởi vì những điều mà cả gia đình cụ cố Hồng mong muốn chẳng có gì hơn thế. Xuân là kẻ lưu manh giả danh tri thức, thời thế thay đổi, một kẻ bịp bợm có tài phỉnh nịnh lại lên như diều gặp gió, nay được dịp, Xuân lại được mọi người kính nể.

Những nhân vật khác cũng không khác đi là bao. Họ đang ăn mừng trên một thây ma. Cậu Tú Tân thì vui sướng vì được dịp trổ tài chụp ảnh của mình và khoe mẽ chiếc máy ảnh mới mà chưa có dịp nào dùng. Bà Văn Minh lại được dịp diện bộ đồ xô gái có mũ mấn trắng viền đen , mốt đồ tang mới du nhập và Phán mọc sừng lại được hưởng lợi từ cái chết của cụ tổ sau khi được rỉ tai chia thêm vài nghìn đồng.

Không riêng gì mỗi gia đình này, tác giả còn chỉ ra những hành động nhố nhăng của những hạng người tự xưng là văn mình thượng lưu nhưng thực chất chỉ là những con sâu não rỗng đã quằn vào đất từ bấy lâu nay của xã hội. Cái chết kia được tổ chức một cách tưng bừng và linh đình thêm phần quý trọng và giống như người ta đang ăn mừng một điều gì đó mà bấy lâu nay tất cả mọi người đều mong mỏi. Kể cả không khí của buổi tang lễ, không có một chút trịnh trọng và thương tiếc người đã khuất, những người đi dự lễ nói cười khúc khích, chỉ trỏ, bàn luận, có khi lại được dịp chim nhau giữa đám đông.

Một sự thật đáng mỉa mai là những người dân hay hai bên đường đổ ra để xem và chỉ trỏ, người ta khen rằng có cái đám ma to khiến cho những người trong gia đình thêm sung sướng và có dịp khoe mẽ,

khi bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giống nhau. Chất bi hài của cảnh khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng: ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt: Hức! Hức! Hức. Ông thương cho người đã khuất chăng? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mặt mọi người. Thực ra, cụ Tổ chết ông ta rất mừng vì được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà cô vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông Phán dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ một cái giấy bạc năm đồng gấp làm tư… để trả công hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước họ hàng nhà vợ, nhờ đó mà ông ta có thêm được một món tiền lớn.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng bộc lộ xuất sắc tài kể chuyện của mình. Bút pháp của Vũ Trọng Phụng giỏi ở chỗ phóng đại mà như không phóng đại, làm cho mọi việc đều như thật và hơn thật, ông chú ý đến các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất, khai thác triệt để nhằm gây nên những tràng cười có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch sinh động, một bức biếm hoạ khổng lồ và chi tiết về cái xã hội tự xưng là thượng lưu, sang trọng ở Hà Nội thời đó đang phơi bày tất cả cái bản chất lố lăng và đồi bại trước mắt mọi người.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
4 3.651