Đề khảo sát tốt nghiệp Ngữ văn 12 cụm 9 trường THPT tỉnh Phú Thọ

Tải về
Lớp: THPT Quốc gia
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Đề thi

Đề khảo sát Ngữ văn cụm 9 trường THPT Phú Thọ

Đề khảo sát tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn cụm 9 trường THPT tỉnh Phú Thọ là tài liệu ôn tập hữu ích giúp học sinh lớp 12 làm quen với cấu trúc đề thi mới, rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và nghị luận văn học. Đề thi bám sát định hướng đánh giá năng lực, phù hợp để luyện đề và củng cố kiến thức trước kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.

Đề thi khảo sát tốt nghiệp THPT môn Văn cụm 9 trường THPT Phú Thọ

SỞ GD&ĐT PHÚ THỌ

CỤM 09 TRƯỜNG THPT

ĐỀ THI KHẢO SÁT TỐT NGHIỆP THPT

NĂM HỌC 2025-2026

Môn: NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản:

“…Gieo hạt. Chăm bón. Tưới tắm. Rồi qua mấy mùa nắng mưa mới đậu quả. Nhanh như cây thanh long, một năm có quả. Thường thì 3-4 năm. Như bưởi, na, cam, mít…3 năm. Hồng xiêm 4 năm. Có cây đến 7-8 năm. Như cây cà phê, cây trám, cây hồi…Còn chăm cho em lớn khôn phải mất ngót nghét cả phần tư thế kỷ.

Quản Trọng (thời Xuân Thu) nói trồng người phải mất 100 năm. Và nhiều khi thành quả còn lâu hơn, như chiều nay ta ngộ ra một chữ yêu thương mà đâu biết từ hạt giống của nó đã gieo tận thành bang Ca-tì-la-vệ, vào hơn 2500 năm trước, ở Ấn Độ.

Hạt tìm đất, bén rễ, qua bao gian nan khó nhọc. Nhờ gió thổi. Nhờ nước cuốn trôi. Nhờ thú rừng chim muông chuyển hạt. Nhờ gió thổi hạt phải nhẹ và có cánh, như hạt thông vàng. Nhờ nước cuốn, quả phải rỗng như quả dừa. Nhờ chim muông, quả phải mỏng vỏ, có màu sắc mời gọi. Tôi nghĩ đến các em học trò Việt du học xứ người. Cũng tìm đủ mọi cách đáp ứng. Cũng lênh đênh. Cũng côi cút. Cũng trải mình qua những mùa nắng hạ mưa đông.

Tiếng Việt mình sâu sắc. Nhân là con người. Nhân cũng là hạt. Nhân cũng là lòng yêu thương người khác. Nhìn những anh chị bại liệt cũng trở thành hiệp sĩ công nghệ thông tin giúp đời. Biết những người khiếm thị cũng làm được nghề sửa chữa điện tử, để có ích và giúp người. Lòng tự hứa không thể là hạt lép. Chẳng có lý do gì để không là hạt giống tốt cho mùa sau.

Từ đó ta có bài học về nết tốt của hạt: Kiên trì, nhẫn nại, và lòng dũng cảm. Cũng như ta học về hạnh sống hết mình của hạt thóc: Sớm cho mùa vàng, dám chịu xay giã giần sàng. Gạo nuôi người, cám bã nuôi heo, rơm tặng người bạn trâu. Và đến cọng rơm thừa cũng bện thành con cúi giữ lửa suốt đêm trường. Và sưởi ấm cánh đồng mùa đông gió bấc.

Mỗi khi ta cằn cỗi, hãy nhớ ta là hạt. Ta lại nghĩ về khoảng xanh ngoài ban công, cũng như bạn thấy những mầm cây đội lên từ khối bê tông đường nhựa. Để không cho những khiếm khuyết tự bào mòn hay những nỗi buồn tự hủy.”

(Trích Hãy đừng là hạt lép – Đoàn Công Lê Huy, Gửi em mây trắng, NXB Kim Đồng, 3/2016, tr.84-85).

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1.

Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.

Câu 2.

Theo tác giả, từ “Nhân” trong tiếng Việt có thể được hiểu theo những nghĩa nào?

Câu 3.

Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn sau:

“Hạt tìm đất, bén rễ, qua bao gian nan khó nhọc. Nhờ gió thổi. Nhờ nước cuốn trôi. Nhờ thú rừng chim muông chuyển hạt.”

Câu 4.

Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến:

“Quản Trọng (thời Xuân Thu) nói trồng người phải mất 100 năm?”

Câu 5.

Từ đoạn trích trên, anh/chị hãy rút ra thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải vì sao (trình bày khoảng 7-10 dòng).

II. VIẾT (6.0 điểm)

Câu 1. (2.0 điểm)

Từ nội dung của phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ về giá trị của thử thách đối với hành trình trưởng thành của tuổi trẻ.

Câu 2. (4.0 điểm)

Trong truyện ngắn Giăng sáng nhà văn Nam Cao viết về nhà văn Điền như sau:

“[…] Đó là một cái mộng văn chương. Đã có một thời, Điền chăm chỉ đọc sách, viết văn. Điền nao nức muốn trở nên một văn sĩ. Điền nguyện sẽ cam chịu tất cả những thiếu thốn, đoạ đày mà văn nhân nước mình phải chịu. Điền vẫn thường bảo với một người bạn cùng chí hướng: Điền sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn… Nhưng viết luôn mấy năm trời, Điền chẳng kiếm được đồng nào. Trong khi ấy Điền vẫn phải ăn. Nhà Điền kiết xác xơ. Các em Điền không được đi học. Mà cũng không được ăn no nữa. Sự túng thiếu đưa đến bao nhiêu là lục đục. Bố Điền bỏ nhà đi. Mẹ Điền gồng thuê, gánh mướn kiếm tiền nuôi hai đứa con thơ. […] Điền thấy mình ích kỉ. Sự nghiệp mà làm gì nữa? Bổn phận Điền phải nghĩ đến gia đình. Điền phải gây dựng lại gia đình! Điền phải tạm quên cái mộng văn chương để kiếm tiền.”

(Nam Cao, Giăng sáng, in trong Nam Cao – Truyện ngắn tuyển chọn, NXB Văn học, 2000, tr.215-216)

Còn trong truyện Đời thừa nhà văn Nam Cao viết về nhà văn Hộ:

“Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Đói rét không nghĩa lí gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn mỗi ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời… Thế rồi, khi đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hắn hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi khổ đau của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách. Những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn. Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách, hay một đoạn văn kí tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách mà mắng mình như một thằng khốn nạn [...].”

(Nam Cao, Đời thừa, in trong Nam Cao – Truyện ngắn tuyển chọn, NXB Văn học, 2000, tr.253-254)

Yêu cầu:

Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh nhân vật Điền và nhân vật Hộ trong hai đoạn trích trên.

Chú thích:

Nam Cao (1915 - 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, là nhà văn lớn của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945.

Giăng sáng (1943) là truyện ngắn tiêu biểu viết về người trí thức tiểu tư sản nghèo.
Đời thừa viết năm 1943, khai thác sâu bi kịch tinh thần của người trí thức trước Cách mạng.

Đáp án mời các bạn x em trong file tải về.

Đánh giá bài viết
1
Đề khảo sát tốt nghiệp Ngữ văn 12 cụm 9 trường THPT tỉnh Phú Thọ
Chọn file tải về :
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi
Đóng
Chỉ thành viên Hoatieu Pro tải được nội dung này! Hoatieu Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm