Đề thi cuối kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo

Tải về
Lớp: Lớp 9
Môn: Ngữ Văn
Dạng tài liệu: Đề thi
Bộ sách: Chân trời sáng tạo

Đề minh họa thi học kì 2 lớp 9 môn Văn bộ CTST

Đề kiểm tra cuối kì 2 môn Văn 9 Chân trời sáng tạo được Hoatieu chia sẻ đến các em trong bài viết này là mẫu đề thi cuối kì 2 lớp 9 môn Văn Chân trời sáng tạo có ma trận giúp các em học sinh có thêm tài liệu ôn thi cuối kì 2 môn Ngữ văn 9. Sau đây là nội dung đề thi học kì 2 môn Văn lớp 9 sách mới CTST, mời các em cùng tham khảo.

Mô tả tài liệu: File tải về bao gồm 4 mẫu đề thi cuối học kì 2 môn Ngữ văn 9 CTST. Trong đó, đề 1,2,3 có đầy đủ ma trận và đáp án. Đề 4 chỉ có ma trận và 2 đề minh họa.

Nội dung mẫu đề thi HK 2 Ngữ văn 9 CTST

Đề 1:

1. MA TRẬN.

TT

Kĩ năng

Nội dung kiến thức/ Đơn vị kĩ năng

Mức độ nhận thức

Tổng % điểm

Biết

Hiểu

Vận dụng

1

Đọc – hiểu

Văn bản thơ

Câu 1,2

Câu 3,4

Câu 5

40%

2

Viết

Viết đoạn văn nghị luận văn học.

Câu 1*

Câu 1*

Câu 1

20%

- Viết bài văn NL về một vấn đề cần giải quyết ( trong đời sống XH)

Câu 2*

Câu 2*

Câu 2

40%

Tổng

20%

40%

40%

100%

Tỉ lệ chung

60%

40%

100%

Bản đặc tả xem trong file tải về.

III. ĐỀ KIỂM TRA.

Phần I. Đọc – hiểu ( 4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

HƠI ẤM Ổ RƠM

Nguyễn Duy

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
“ Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê(1) chỗ ngủ”
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm.

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm,
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng,
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác, gầy gò.

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no,
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.

(In trong tập Cát trắng, Nxb Quân đội nhân dân, 1973)

Ghi chú:

- Tác giả: Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ (sinh ngày 07/12/1948) tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa). Ông thuộc thế hệ nhà thơ quân đội trưởng thành trước cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu. Những tác phẩm của ông chủ yếu viết về người lính.

(1) Mê: nhiều.

Trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1 ( 0,5 điểm). Bài thơ trên được làm theo thể thơ nào?

Câu 2 ( 0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?

Câu 3 ( 1,0 điểm). Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng gì trong câu thơ sau: Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm ?

Câu 4 ( 1,0 điểm). Em có nhận xét gì về tình cảm của nhân vật trữ tình được thể hiện trong bài thơ?

Câu 5 ( 1,0 điểm). Bài học sâu sắc nhất em nhận được từ bài thơ trên là gì? Vì sao?

Phần II. Viết ( 6,0 điểm).

Câu 1 ( 2,0 điểm):

Từ phần đọc – hiểu, em hãy hiết đoạn văn ( khoảng 200 chữ) cảm nhận về hình ảnh người mẹ trong bài thơ “ Hơi ấm ổ rơm” của Nguyễn Duy.

Câu 2 ( 4,0 điểm):

Viết một bài văn nghị luận ( khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề Tuổi trẻ và lối sống cống hiến trong xã hội hiện nay.

Đáp án xem trong file tải về.

Đề 2:

TT

Kĩ năng

Nội dung kiến thức/ Đơn vị kĩ năng

Mức độ nhận thức

Tổng % điểm

 

 

 

Biết

Hiểu

Vận dụng

 

1

Đọc

- Văn bản thơ

- Văn bản truyện.

- Văn bản nghị luận

2

2

1

40

2

Viết

- Viết đoạn văn nghị luận văn học/ đoạn văn nghị luận xã hội.

1*

1*

1*

20

 

 

- Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống XH)/ Viết bài văn phân tích một đoạn trích hay một tác phẩm thơ hoặc truyện.

1*

1*

1*

40

Tổng

20%

40%

40%

100

Tỉ lệ chung

60%

40%

100%

PHÒNG GD&ĐT …..

TRƯỜNG THCS….

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II

NĂM HỌC:….

MÔN: NGỮ VĂN 9

Thời gian làm bài: 90 phút

(Đề gồm 02 trang)

Phần I. Đọc – hiểu: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại.

Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác.

Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba tôi bảo:

- Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.

Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói:

- Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi !

Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ:

- Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi!

Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.

Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.

Ba tôi hào hứng thông báo:

- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp.

Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán:

- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!

Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi vung tay cốc cho nó một phát.

(Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019)

Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể chuyện?

Câu 2 (0,5 điểm) Theo văn bản, vì sao nhân vật “tôi” phải học gấp đôi những đứa khác?

Câu 3(1,0 điểm) Trong đoạn văn sau câu nào là câu rút gọn? Việc sử dụng câu rút gọn trong đoạn văn đó có tác dụng gì?

Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại”.

Câu 4 (1,0 điểm). Chi tiết “Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng” cho thấy tình cảm gì của nhân vật “tôi” đối với người mẹ của mình?

Câu 5 (1,0 điểm) Qua văn bản trên, em rút ra được những thông điệp gì?

Phần II: Viết:

Câu 1: Từ nội dung đoạn trích phần đọc- hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật “tôi”.

Câu 2: Suy nghĩ của em về vấn đề tuổi trẻ với hoạt động bảo vệ môi trường biển hiện nay.

----- Hết -----

Đáp án xem trong file tải về.

Đề 4:

I. Đọc - hiểu (4.0 điểm)

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:

Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học các kĩ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế, xã hội và thiên nhiên. Đặc biệt là với lứa tuổi dậy thì, khi các em bước vào giai đoạn khủng hoảng lứa tuổi quan trọng của cuộc đời. Từ những phân tích trên cho thấy, tuổi trẻ hiện nay phải tự đương đầu với nhiều vấn đề tâm lí xã hội phức tạp trong cuộc sống. Ngoài kiến thức, mỗi học sinh đều cần trang bị cho mình những kĩ năng để ngày càng hoàn thiện bản thân và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học là giúp các em có khả năng: Làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng; mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn... Những người có kĩ năng sống là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc. Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính họ. Các cá nhân thiếu kĩ năng sống là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Giáo dục kĩ năng sống có thể thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và do vậy sẽ làm giảm bớt tệ nạn xã hội. Kĩ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề về sức khỏe, xã hội và bảo vệ quyền con người. Giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội hiện đại.

(Trích “Cẩm nang Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.9)

Câu 1 (0.5đ). Xác định vấn đề nghị luận của ngữ liệu trên?

Câu 2 (0.5đ). Theo ngữ liệu, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học nhằm hướng tới mục tiêu nào?

Câu 3 (1.0đ) Nêu tác dụng của phép liệt kê có trong câu văn sau: “Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng; mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn..”.

Câu 4 (1.0đ). Tại sao tác giả lại cho rằng: "Giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hôi hiện đại"?

Câu 5 (1.0 điểm). Tác giả đã gửi gắm những thông điệp gì qua ngữ liệu trên? Thông điệp nào có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao?

II. Viết (6.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích bài thơ bài thơ sau:

HÀNH QUÂN GIỮA RỪNG XUÂN

Rừng xa vọng tiếng chim gù,

Ngân nga tiếng suối, vi vu gió ngàn.
Mùa xuân đẫm lá nguỵ trang,
Đường ra tiền tuyến nở vàng hoa mai.
Ba lô nặng, súng cầm tay,
Đường xa biết mấy dặm dài nhớ thương.
Giờ này mẹ ở quê hương,
Cũng chừng đang dõi theo đường ta đi.
Đêm mưa, ngày nắng sá gì,
Quân thù còn đó, ta đi chưa về.
Chim rừng thánh thót bên khe,
Nhìn lên xanh biếc bốn bề rừng xuân.

(Trích tuyển tập “Thơ Lê Anh Xuân”, NXB Giáo dục, 1981)

Tri thức Ngữ văn về tác giả.

Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1940 tại quê hương Đồng Khởi - Bến Tre. Ông cũng là một chiến sĩ, hy sinh ngày 21 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ và đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp to lớn của mình cho dân tộc. Các tác phẩm nổi tiếng: “Nhớ mưa quê hương” (1961), “Trở về quê nội” (1965), “Nguyễn Văn Trỗi” (Trường ca -1968) …

Câu 2 (4.0 điểm). Từ nội dung ngữ liệu phần đọc - hiểu, kết hợp với hiểu biết xã hội, em hãy viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết: "Làm thế nào để giải quyết tình trạng học sinh thiếu kĩ năng sống hiện nay?”

Mời các bạn sử dụng file tải về để xem thêm mẫu đề thi và ma trận chi tiết.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Lớp 9 của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 1.278
Đề thi cuối kì 2 Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
Chọn file tải về :
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
0 Bình luận
Sắp xếp theo
⚛
Xóa Đăng nhập để Gửi
Đóng
Chỉ thành viên Hoatieu Pro tải được nội dung này! Hoatieu Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm