Bài dự thi Người thầy kính yêu năm 2024 hay nhất

Hoatieu xin chia sẻ các mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu hay nhất được biên soạn và tổng hợp từ những mẫu đạt giải cao mới nhất hiện nay. Mời các bạn tham khảo dưới đây.

Cuộc thi viết về Người thầy kính yêu là một cuộc thi do Báo Người Lao Động phát động, là một cuộc thi rất có ý nghĩa để bất cứ người dân Việt Nam nào cũng có thể thể hiện tình cảm, kỷ niệm của mình đến các thầy cô giáo. Những mẫu bài thi Người thầy kính yêu là những chia sẻ rất chân thực, kể về những dấu ấn sâu sắc của những đã, đang là học trò với người thầy, người cô dạy dỗ, dìu dắt mình lên người. Mời các bạn cùng theo dõi Bài dự thi viết về "Thầy cô kính yêu" hay, ấn tượng dưới đây để có thêm ý tưởng cho bài viết của mình.

1. Thể lệ cuộc thi Người thầy kính yêu

1.1. Nội dung bài thi Người thầy kính yêu

  • Nhân vật trong bài là thầy giáo, cô giáo, còn đang sống hoặc đã qua đời; gắn với việc thật và kỷ niệm có thật, có thể xác minh được.
  • Thầy, cô là nhà giáo thật sự, cũng có thể là người chưa từng qua trường lớp đào tạo sư phạm chính quy nào, song đã có nhiều đóng góp cho nền giáo dục - đào tạo nói chung; hoặc cho giáo dục - đào tạo tại một địa phương/ một nhà trường cụ thể, xứng đáng được khen ngợi, tôn vinh.
  • Dấu ấn sâu sắc của thầy, cô giáo trong giảng dạy và nghiên cứu, khiến tác giả/người kể chuyện không thể nào quên, ngưỡng mộ và yêu quý.
  • Công lao dạy dỗ, dìu dắt của "người đưa đò" đối với học trò, tác động lớn đến tương lai của học trò (hoặc nhiều thế hệ học trò) về sau; hoặc làm thay đổi cuộc sống của học trò (hay bạn bè, người thân của học trò) theo hướng tích cực hơn.
  • Tấm gương sư phạm tiêu biểu, có tầm vóc lớn về tri thức và mẫu mực về nhân cách, ảnh hưởng đặc biệt tới học trò hay nhiều thế hệ học trò.

1.2. Quy định về cuộc thi Người thầy kính yêu

* Hình thức

  • Được trình bày qua một trong các thể loại: ký sự (ký báo chí), phỏng vấn xây dựng chân dung, trần thuật.
  • Bài được viết bằng tiếng Việt, mỗi bài dung lượng tối thiểu 1.200 từ, tối đa 1.700 từ, kèm theo ít nhất 2 ảnh, chú thích đầy đủ. Khuyến khích các tác giả gửi video liên quan trực tiếp đến nội dung bài dự thi.
  • Tác phẩm dự thi là bài viết mới, chưa được đăng/ phát trên bất kỳ báo, đài hay trang mạng xã hội nào, cũng không được gửi cho cuộc thi viết khác.

* Đăng tải

  • Mỗi tác giả được đăng tối đa ba (03) bài dự thi. Nếu được báo Người lao động đăng tải thì tác phẩm sẽ được trả nhuận bút và thuộc sở hữu của Báo Người Lao Động; tác giả không được khiếu nại về bản quyền.

* Giải thưởng:

  • Có bảy (07) giải, gồm: Nhất 35 triệu đồng, nhì 25 triệu đồng, ba 15 triệu đồng (2 giải), khuyến khích 10 triệu đồng (3 giải).

  • Ngoài ra, Ban Tổ chức sẽ tôn vinh một số gương thầy, cô đặc biệt tiêu biểu, qua những tác phẩm đoạt giải.

1.3. Thời hạn và nơi nộp bài dự thi Người thầy kính yêu

  • Thời gian nhận bài từ ngày 20-11-2022.
  • Bài dự thi gửi qua emai:
    • nguoithaykinhyeu@gmail.com
    • Hoặc nguoi-thaykinhyeu@nld.com.vn;
  • Nếu gửi bản viết tay về Tòa soạn Báo Người Lao Động (123-127 Võ Văn Tần, phường Võ Thị Sáu, quận 3, TP HCM) thì ngoài bì thư ghi rõ: Bài dự thi "Người Thầy kính yêu".

2. Bài dự thi Người thầy kính yêu đoạt giải nhất lần 1

Bài dự thi Người thầy kính yêu đoạt giải
Bài dự thi Người thầy kính yêu đoạt giải

Đây là mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu đạt giải nhất cuộc thi Người thầy kính yêu lần 1. Mời các bạn tham khảo

Nỗi nhớ thầy, cô khắc sâu như tạc

Trên hành trình theo đuổi "nghiệp học" và sự nghiệp giáo dục của mình, tôi luôn khắc cốt ghi tâm hai hình ảnh thầy và cô mà tôi đã học bậc sơ cấp ở trường làng thuở thiếu thời, họ là những tấm gương sư phạm tuyệt vời

Tôi ra đời giữa thời Pháp thuộc, chính sách ngu dân đè nặng dân ta với cơ sở trường học thì nghèo nàn, thưa thớt. Chỉ những người có điều kiện mới được học lên, còn phần nhiều thì mù chữ… Năm 7 tuổi tôi vào học lớp vỡ lòng (Cours Enfantin), tương đương lớp 1 hiện nay.

Nghẹn ngào bởi sự ân cần, tận tâm của cô

Khi ấy, cô giáo Trần Thị Hoanh, vừa mới ra trường, dạy lớp tôi. Cô là một người phụ nữ hiếm hoi đã vượt qua được những rào cản thời bấy giờ để tiếp cận với nền giáo dục phương Tây và trở thành một người dạy học mẫu mực khiến tôi cùng nhiều bạn đồng trang lứa thường nhắc đến với tất cả sự kính trọng và quý mến.

Cô tôi sở hữu vẻ mặt khả ái và nhân hậu, toát lên vẻ mô phạm và đầy thiện cảm với mọi người. Dáng cô mảnh khảnh, đi đứng khoan thai. Giọng nói của cô trong trẻo, thanh tao, đặc biệt là phần phát âm rất rõ ràng thu hút người nghe. Cô được xem là thần tượng, là người truyền cảm hứng cho ước mơ thầm kín trong trí óc non nớt, ngây thơ của tôi: ngày sau mình sẽ trở thành cô giáo được quý trọng như cô vậy...

Vào lớp, tôi luôn tập trung nghe cô giảng, dõi theo từng cử chỉ của cô, lắng nghe từng lời cô nói, ra sức gắng học cho giỏi. Giờ ra chơi, tôi thường quẩn quanh trong lớp dù chỉ một mình, phần vì rụt rè, phần do thích đọc sách. Bỗng một hôm, khi tôi đang mải mê đọc sách, cô khẽ bước đến sát bên tôi và hỏi: "Sao em không ra sân chơi với các bạn mà lại cứ thui thủi một mình trong này hoài vậy?". Giật mình đứng phắt dậy nhìn cô, chưa kịp trả lời thì cô rút nhẹ quyển sách Quốc văn giáo khoa thư trong tay tôi, lật gần trang cuối cô bảo: "Đâu em đọc bài này cô xem". Hai tay đón lấy sách cô đưa và tôi cắm cúi đọc đến hết bài. Nghe xong, cô vỗ nhẹ đầu tôi và khen: "Em đọc giỏi lắm". Rồi cô nhanh bước ra khỏi lớp.

Một lát sau, trống trường báo hiệu giờ vô học, chúng tôi xếp hàng vào lớp. Đợi ổn định xong, cô lại gần bảo tôi: "Em gom hết đồ vô cặp rồi đi theo cô". Tôi ngơ ngác không biết gì cũng riu ríu đi theo cô. Thế rồi cô đưa tôi vào lớp kế bên, (tạm gọi) là lớp hai (tức là Cours Préparatoire). Nghĩa là tôi đã được "nhảy lớp" (lên lớp sớm gần nửa năm học) nhờ sự quan tâm sát sao của cô. Thầy lớp mới lo xếp chỗ cho tôi ngồi. Tôi vừa yên vị xong, cô lại gần xoa nhẹ đầu tôi bảo: "Ráng học ngoan nhé em!", sau đó cô rời đi, nhìn theo dáng cô, tôi rơm rớm nước mắt. Bất giác tôi nghẹn ngào và thầm nhủ:

- "Em thương cô rất thiết tha

Năm học chưa mãn, em xa cô rồi!"

Rồi từ đó, buổi học nào tôi cũng đi thật sớm đứng lóng ngóng ngoài cổng trường để âm thầm đón gặp cô. Cứ thế cho đến khi tôi giã biệt mái trường. Thời gian học với cô chưa đầy một năm, mà suốt đời tôi vẫn nhớ như tạc vẻ ân cần, tận tâm với học trò của cô. Cô là một tấm gương sáng đầu đời về tình thương và trách nhiệm mà tôi noi theo trong suốt quãng đời tham gia sự nghiệp giáo dục của mình.

Người thầy bỏ làm quan để mở mang dân trí

Khi học xong lớp ba, tôi đành thui thủi ở nhà vì trường làng đã hết lớp, không biết đến khi nào mới được học tiếp. May mắn thay, 3 năm sau, tin vui bất ngờ đến với người dân quê tôi. Ông Bùi Đức Thắng (được gọi thân mật là ông Tám), là con của một Hương quản hội tề, được cha mẹ ông cho đi Tây học để sau này nối nghiệp làm quan. Nhưng sau hơn 10 năm du học Pháp, khi hồi hương ông quyết không cộng tác với Pháp mà về quê mở ngôi trường tư thục - mang tên Thanh Bần - nằm khiêm tốn trong khu vườn nhà ông để mở mang dân trí.

Ngày khai giảng, vừa bước vào buổi lễ, ông Tám giơ tay vẫy chào vui vẻ và thân mật tiếp chuyện bà con xua tan mọi định kiến về khoảng cách xã hội. Ông nói tiếng Việt rất chuẩn, không chút lai căng (không hề xen một tiếng Pháp nào trong khi giao tiếp). Vừa là chủ trường vừa là thầy đứng lớp, ông Tám là người dạy Việt văn rất hay, nhất là môn Luân lý (Morale), giảng bài với giọng diễn cảm rất hấp dẫn người nghe và tạo một ấn tượng sâu sắc khó quên…

Tôi vẫn nhớ như in giọng trầm buồn của thầy. Trong giờ Sử Pháp (Histoire de France), bài Jeanne D’arc được kết thúc bằng một bài hát ngắn để ca ngợi vị nữ anh hùng Pháp hy sinh vì tổ quốc. Khi chúng tôi nghêu ngao hát hết bài, thầy ôn tồn bảo: "Ở bên Tây chỉ có một nữ anh hùng Jeanne D’arc, chớ ở Việt Nam ta đã có tới 3 vị: Hai Bà Trưng và Bà Triệu - đã từng lừng danh và oanh liệt, mấy em có nhớ tới?...". Tuy thầy chỉ "trách nhẹ" nhưng chúng tôi cảm thấy xấu hổ vì ngu muội, trong phút lơ đễnh quên mình là con cháu của ai. Thế đấy, thầy tôi âm thầm giáo dục lòng yêu nước cho học sinh.

Ngoài ra, thầy còn đả phá chế độ hà khắc của địa chủ với tá điền: "Địa chủ bóc lột tá điền/ Tạo cớ thu hút tài nguyên dân nghèo" ("Tài nguyên dân nghèo" là ám chỉ sức lao động của họ. Thật vậy, mỗi khi nhà địa chủ có đám tiệc, tá điền - người nghèo phải đến phụ giúp quần quật ngày, đêm mà không hề được trả công).

Hoặc, chê trách cách đối xử như phường bội bạc của địa chủ đối với tôi tớ, người giúp việc: "Con lành con ở cùng bà/Vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường" (Thầy dạy theo sách Luân lý). Với các bài học luân lý đầy tính nhân văn như thế, thầy đã tạo nên nền tảng đạo đức cho các thế hệ học sinh. Chúng tôi rất biết ơn thầy Bùi Đức Thắng - người xứng danh là một kỹ sư tâm hồn chân chính và là ngọn nến của quê hương tôi.

"Thầy tôi dù đã đi Tây,

Bao năm xa xứ, không thay đổi lòng

Thầy dù gặp phải cuồng phong

Bản sắc dân tộc quyết không phai mờ".

Tuy thầy, cô của tôi nay đã khuất nhưng để lại những tấm gương sư phạm tuyệt vời, mẫu mực về nhân cách và đạo đức còn nguyên giá trị xã hội mà hậu sinh đáng học tập và noi theo. Tôi mãi thành kính nhớ ơn thầy, cô!

Tác giả: Trần Thị Rồng

3. Mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu xúc động số 2

Bóng thầy chiều hôm ấy

Có một tình yêu suốt đời tôi không bao giờ quên, đó là tình yêu thương của thầy Mậu đối với học trò. Thầy nâng bước cho bao đứa trẻ nơi ruộng đồng như tôi được đến trường.

Năm ấy là năm đầu tiên huyện tôi có trường cấp 2 thứ hai. Trước kia, cả huyện mới có một trường cấp 2. Tôi học lớp 6A Trường cấp 2 Hiệp Hòa, Vũ Thư, Thái Bình (trường mới).

Cả xã chỉ có vài ba học sinh cấp 2 thôi. Chúng tôi thường cuốc bộ đi học mặc dù nhà tôi cách trường đến mười cây số. Tôi học khá. Riêng môn văn, thầy giáo bảo tôi có năng khiếu. Tôi chỉ biết rằng mình mê môn văn nhất. Môn văn cuốn hút tôi, nhiều khi chiếm cả thời gian dành cho các môn khác. Tôi mê tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ, vớ được cuốn truyện, tập thơ nào là đọc ngấu nghiến. Khi bế em, khi cưỡi trên mình trâu, kể cả khi đi câu cá rô, cá chuối..., hầu như lúc nào tôi cũng kè kè cuốn truyện, tập thơ ở bên người. Thời ấy, sách cực kỳ hiếm. Về tiểu thuyết, tôi chỉ biết có "Vượt Côn Đảo" của nhà văn Phùng Quán, "Sông Đông êm đềm" của M.A.Sholokhov, "Những người khốn khổ" của Victor Hugo, "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan, "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng… Truyện ngắn và thơ lại càng hiếm. Tôi chỉ được đọc những truyện đăng lẻ hoặc những bài thơ đăng lẻ ở một tờ báo, một tạp chí nào đó may mắn từ tay một thầy giáo làng (thầy Trính, ở làng tôi).

Thầy Mậu dạy văn, cũng là thầy giáo chủ nhiệm lớp tôi. Thầy luôn luôn gần gũi bọn học trò. Nhờ có thầy thường xuyên khích lệ, môn văn của tôi thường được điểm cao. Thầy còn động viên tôi làm thơ. Và thế là một số bài văn vần của tôi ra đời từ đấy. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một ít. Đọc lại những câu ấy, giờ đây tôi thấy rõ đấy chỉ là những câu văn vần mà thôi. Thế nhưng, thời ấy, làm được những câu văn vần như thế đã là giỏi. Bạn bè cứ trêu tôi là "thi sĩ".

Tác giả chụp cùng những người bạn. Từ trái qua: Triệu, Tiến, Trinh, Giang - lớp 7C Trường Phổ thông cấp 2 Thư Trì, năm 1961.

Quê tôi là một miền yên tĩnh nằm phía cuối huyện. Hệ thống thủy nông, thủy lợi lúc bấy giờ hầu như không có gì. Đồng quê tôi thuộc loại trũng nhất, như là một cái rốn của huyện. Từ ngày hòa bình năm 1954 đến năm ấy, hầu như năm nào cũng cứ đến tháng 6, tháng 7 âm lịch, cả huyện phải đổ dồn về xã tôi chống úng, cứu mạ, cứu lúa. Nhà tôi nghèo lắm. Bố mẹ tôi tảo tần quanh năm mà không đủ nuôi 6 miệng ăn. Tôi là anh cả. Dưới tôi còn 3 đứa em lít nhít. Mẹ tôi lại yếu đau luôn. Bố tôi quanh năm vật lộn với hòn đất, lặn hụp hết Đồng Táy, Đồng La, lại Con Cóc, Gồ Cay, Ông Moi, Hạ Bạch, Đồng Gìm… chỉ mơ có một vụ được mùa nhưng mấy khi có được. Đồng đất liên miên thất bát. Cái đói, cái nghèo làm cho lũy tre xanh xơ xác, thưa vắng bóng cò.

Thế là tôi quyết định bỏ học. Tôi nói dối bố mẹ là trường đang sửa chữa, phải nghỉ học một thời gian. Bố mẹ tôi tưởng thật. Thế là từ hôm ấy, tôi ra đồng đi cuốc với bố.

Hôm ấy là ngày thứ tư tôi bỏ học. Bố con tôi đang cuốc ruộng ở cánh đồng Gìm. Cánh đồng tháng mười vừa mới gặt xong. Nhà nào có trâu bò thì cày. Nhà nào không có trâu bò thì phải cuốc. Nhiều lúc cuốc nảy lên, tay tôi phồng rộp, đau rát. Nhìn về phía làng, tôi thấy làng tôi như một con thuyền vĩ đại đang thả neo trên cánh đồng để giăng bắt những vụ chiêm mùa no ấm. Lũy tre xanh bao bọc lấy làng chạy dài ra mãi tít chân đê...

Bỗng xa xa bên lũy tre làng có bóng áo trắng đang vội vã đi ra cánh đồng. Rõ rồi! Người ấy mặc áo trắng, đội mũ. Mà trên vai lại còn vác một cái cuốc nữa? Lạ nhỉ? Ai thế nhỉ? Người làng tôi có ai mặc áo trắng đâu? Chỉ áo nâu, áo gụ, áo xanh là cùng! Đồng làng tôi có ai đội mũ đâu? Chỉ toàn đội nón lá, mà thường là nón cũ, nón tuột vành, nón rách tả tơi. Thế thì là ai nhỉ? Mà lại vác cuốc?... Người ấy đang đi về phía bố con tôi...

- "Ô kìa, thầy Mậu!".

Tôi ngỡ ngàng reo lên. Thật không ngờ!

Bố con tôi dừng cuốc, chạy lên bờ chào thầy và mời thầy về nhà. Nhưng thầy nhất quyết không về. Thầy xắn quần lội ngay xuống ruộng cuốc với bố con tôi. Vừa cuốc, thầy vừa nói chuyện với bố. Thầy nói rằng tôi học khá, riêng môn văn học giỏi và khuyên bố tôi tiếp tục cho tôi đi học. Bấy giờ bố tôi mới biết là tôi đã nói dối. Tôi xin lỗi bố, xin lỗi thầy, hứa sẽ tiếp tục đến lớp và học tập thật tốt.

Chiều hôm ấy, bố mẹ, tôi và các em tôi cố giữ thầy ở lại ăn cơm với gia đình. Nhưng thầy nhất quyết từ chối. Thầy mở cặp lấy ra 2 quyển vở và một cây bút máy Trường Sơn đặt vào tay tôi, dặn dò: "Ngày mai em tới lớp nhé!". Tôi lóng ngóng đưa 2 tay ra nhận... Nước mắt tôi trào ra, giàn giụa… Tôi khóc nức nở như một đứa con nít…

Thầy vỗ vai tôi bảo: "Nín đi em, cố gắng nhé!".

Thế rồi, thầy đi. Bố mẹ tôi, anh em tôi cứ đứng nhìn mãi theo cái bóng xe đạp cà tàng của thầy cứ cút kít, cút kít vang mãi trong buổi chiều hoàng hôn lộng gió.

Quá nửa thế kỷ qua rồi, bao nhiêu vinh quang và cay đắng, bao nhiêu là thăng trầm trong cuộc sống, bao điều tôi không thể nào nhớ nổi... nhưng hình ảnh người thầy gầy gò gò lưng đạp chiếc xe đạp tàng trong buổi chiều hoàng hôn lộng gió và tình yêu của thầy thì cứ còn mãi, còn mãi trong ký ức tôi, không bao giờ phai mờ…

Tác giả: Phạm Minh Giang

Mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu
Mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu

4. Mẫu bài dự thi Người thầy kính yêu hay số 3

Chắp cánh ước mơ qua những bài giảng sử

Chính cô là người gieo trong tôi hạt mầm hy vọng, giúp tôi hiện thực hóa ước mơ của cuộc đời mình. Cả đời này tôi nợ cô một mối ân tình sâu nặng.

Tôi học cấp ba dưới ngôi trường mang tên cố nhà thơ Nguyễn Bính, nằm ở xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Dưới mái trường ấy, mối lương duyên đã giúp tôi trở thành học sinh của cô Phạm Thị Nguyện - giáo viên dạy môn lịch sử và cũng là giáo viên chủ nhiệm ba năm cấp 3 của tôi.

Những giờ học lịch sử sinh động

Môn lịch sử xưa nay là "môn chán" bởi những mốc thời gian khó nhớ, bởi những sự kiện, tường thuật dài dòng. Nhưng giờ dạy sử của cô giáo chủ nhiệm tôi hoàn toàn khác. Cô luôn căng tràn nhiệt huyết, kiến thức lịch sử sâu rộng và đặc biệt cô đứng lớp bằng cả trái tim yêu thương, tâm hồn sâu lắng. Cô chuyển tải bài giảng bằng giọng nói trầm ấm, nhẹ nhàng thiên phú.

Mỗi giờ sử không còn đơn điệu cô đọc, trò ghi, mà cô cho học sinh có cơ hội "đóng vai" những nhân vật lịch sử để xử lý tình huống trong những giờ khắc lịch sử nước sôi lửa bỏng, ngàn cân treo sợi tóc. Để diễn cho thật hay, thật đạt, chúng tôi cố gắng đọc tiểu sử vị anh hùng mà mình sẽ hóa thân. Mỗi tổ bốc thăm để chọn nhân vật, phân công cho những họa sĩ bất đắc dĩ vẽ lại bản đồ trận đánh, lựa chọn người dẫn và kết bài. Nhờ những lần sân khấu hóa mà chúng tôi đã có giờ phút vui vẻ bên nhau với những trận tranh cãi kịch liệt, bởi ai cũng muốn đóng vai anh hùng, không bạn nào chịu vai quần chúng.

Sau khi được "nhập vai" thành các vị anh hùng dân tộc, thống lĩnh ba quân, thể hiện tầm nhìn, sách lược, chiến lược... đứa nào đứa nấy đều rất hồ hởi. Các bạn còn lại nhao nhao nhận xét, cô giáo lại đứng ra làm trọng tài. Với chất giọng trầm ấm, du dương, cô đưa chúng tôi trở về với không gian, thời gian xa xưa nơi xảy ra sự kiện lịch sử ấy...

Qua mỗi tiết học, chúng tôi thêm kính yêu và khâm phục tầm vóc và trí tuệ siêu việt của các vị anh hùng dân tộc. Cô đã chỉ ra những điểm chung ở các vị anh hùng ấy là ý chí quyết tâm, tấm lòng yêu nước, thương dân, đạo đức trong sáng, sẵn sàng hy sinh tất thảy và luôn đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Đó cũng chính là bài học làm người để lớp lớp học trò chúng tôi phải ngẫm suy sau mỗi giờ học và mang theo trong hành trang tương lai sau này để sống làm người có ích cho xã hội, cho cộng đồng.

Tôi còn nhớ như in kỷ niệm buổi thuyết trình của tôi về chiến dịch Điện Biên (năm 1954), chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đã chấm dứt 100 năm dân tộc ta trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi - một con bé nhút nhát dám mạnh dạn đứng lên thuyết trình. Và ngoài sức tưởng tượng của tôi, hôm đó tôi đã trình bày chi tiết và lưu loát về ba đợt tấn công của quân ta dưới sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp… Kết bài xong, cả lớp đã đồng loạt vỗ tay và khen ngợi đến khi tôi phổng cả mũi.

Cô nhìn tôi với ánh mắt hiền từ và không ngừng cổ vũ, cô nói tôi rất có khiếu sư phạm. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi vượt qua sự sợ hãi của bản thân để mạnh mẽ đứng trước lớp và vụt sáng trong một chiều lãng đãng mưa. Chẳng bao giờ tôi quên được giờ phút hạnh phúc ấy.

Chính vì si mê giờ giảng lịch sử của cô, nên dù được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi văn, tôi kiên quyết xin vào đội tuyển học sinh giỏi lịch sử do cô hướng dẫn. Năm 2007, thật may mắn và không phụ lòng mong mỏi của cô, tôi đoạt giải ba học sinh giỏi môn lịch sử tỉnh Nam Định, tôi là một trong số học sinh đầu tiên mang đến chút thành tựu quý giá cho ngôi trường mới tròn 2 năm tuổi. Lúc ấy bố mẹ, họ hàng và cả bạn bè tự hào về tôi lắm và đó chính là hạt mầm đầu tiên giúp tôi thuyết phục gia đình cho mình đi học đại học sau này.

Thắp hy vọng cho học sinh nghèo

Tôi sinh ra và lớn lên ở làng quê nghèo chiêm trũng, cuộc sống của người dân thôn quê quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, nên cái nghèo đeo bám hoài không thôi. Tôi là con thứ trong gia đình đông con, mẹ tôi bị bệnh khớp đeo bám. Các anh, chị của tôi dù học rất giỏi nhưng vì cuộc mưu sinh ghì sát đôi vai gầy hao bố mẹ, thương đấng sinh thành nên đành học xong cấp II phải nghỉ học. Tôi may mắn hơn khi là con út nên được đi học cấp III và ý định của tôi chỉ dừng lại sau khi tốt nghiệp.

Những buổi chiều tắt nắng, mây buồn trôi lãng đãng trên bầu trời, tôi buồn rầu, ủ rũ, nặng nề lê bước trở về nhà khi thấy các bạn tôi ở lại ôn thi đại học. Khi biết tôi không có ý định và cũng không dám ước mơ bước chân vào giảng đường vì nhà quá nghèo, cô đã kéo tôi lại dưới gốc bàng non mới được trồng chưa kịp tỏa bóng mát. Cô kể cho tôi nghe về những người bạn học của cô ở miền Trung đầy nắng, gió, bão lũ quanh năm. Họ sống trong nỗi vất vả, gian lao nhưng vẫn vươn mình mạnh mẽ để đón ánh sáng của tri thức. Cô kể cho tôi về trải nghiệm 4 năm ở Huế trong môi trường sư phạm, những câu chuyện ấy đã gieo vào trong tôi hạt mầm hy vọng tương lai tươi sáng hơn. Tôi không muốn chấp nhận tương lai là cô thôn nữ lấy chồng, sinh con và sống lặng lẽ như bao thế hệ phụ nữ ở vùng quê này. Khi gặp cô, cuộc đời của tôi sang một trang khác. Ước mơ của tôi đã được cô động viên, cổ vũ, khích lệ và tiếp thêm niềm tin.

Năm 2008, dù tôi không tham gia lớp ôn thi mà chỉ tự học ở nhà nhưng tôi đã đậu trường đại học sư phạm khối C với tổng số 23 điểm, đặc biệt được 9 điểm môn lịch sử. Phải nói rằng nhờ cuốn sổ ghi chép bằng tay ngắn gọn những sự kiện lịch sử quan trọng mà cô đã tặng tôi, bên dưới mỗi bài học ấy là dòng chữ được ghi nắn nót: "Cố gắng lên em, cô tin em sẽ về đích xuất sắc".

Ngày nhận giấy báo trúng tuyển đại học, tôi vỡ òa hạnh phúc và sung sướng vô ngần. Bố mẹ tôi đã chấp nhận cho tôi có cơ hội tiếp tục học, để hôm nay tôi thực sự đang làm chủ vận mệnh của đời mình. Cảm ơn cuộc đời vì tôi được làm học trò của cô!

Tác giả: Nguyễn Thắm

5. Viết về Người thầy kính yêu số 4

Viết về Người thầy kính yêu
Viết về Người thầy kính yêu

Dẫn lối vào nghề dạy học

Tôi theo nghề dạy học cũng từ sự tư vấn của ba tôi. Ba thường nói với tôi: "Con yêu mến trẻ thơ, sống tình cảm, con học sư phạm là hay nhất..."

Tốt nghiệp Trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn năm 1960, ba tôi nhận nhiệm sở ở một miền quê xa có tên là Cái Tàu Thượng giáp ranh với tỉnh An Giang.

Về thăm nhà, ba hay đọc sách cho nghe và dẫn tôi đi đây đó nên ở tuổi mẫu giáo, tôi biết đọc sớm hơn các bạn cùng lứa. Lên tiểu học, tôi thích đọc sách trong tủ sách gia đình của ba. Quyển nào ba cũng in một con dấu tròn có hình quyển sách được mở ra, giữa là ngọn đuốc và chiếc bút, cạnh bên là thân tre xanh mướt. Ba dặn dò tôi phải đọc sách, siêng đọc sách và làm theo sách thì mới nên người. Vì lẽ đó, sau này lớn lên, trở thành thầy giáo như ba, tôi cũng lập cho mình một tủ sách riêng, xem việc mua được, đọc được một quyển sách hay là niềm vui lớn.

Những quyển sách đầu tiên tôi đọc dù chưa hiểu mấy song tôi còn nhớ như in đó là "Cổ học tinh hoa", "Việt Nam sử lược"… Suốt quãng đời dạy học tôi luôn gầy dựng thói quen đọc sách cho học sinh. Học sinh có thành tích tốt, tôi thưởng sách. Quà sinh nhật cho con, cháu tôi cũng tặng sách mà không tặng tiền hay đồ chơi.

Năm 1978, tôi theo học ở trường sư phạm tỉnh. Trường tôi thường đưa giáo sinh về lao động ở một nông trường quân đội thuộc huyện Tháp Mười để có thêm khoản lương thực cải thiện bữa ăn cho toàn trường trong lúc kinh tế còn khó khăn.

Tôi lớn lên ở vùng thành thị, chưa từng lăn lộn sông nước, chỉ biết đồng quê qua thơ ca, nhạc, họa. Mỗi chuyến đi lao động của giáo sinh ở nông trường như thế là 15 ngày… quá đỗi vất vả. Ba đã chuẩn bị tư tưởng cho tôi bằng những câu chuyện của ba vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Nơi ba tôi dạy học, đời sống bà con còn vất vả nhiều, thiếu thốn trăm bề. Trẻ con có thể mất mạng vì những bệnh thông thường do cha mẹ thiếu hiểu biết, rất tội. Trường ba tôi dạy nằm trong vùng có chiến sự, nhiều em thiếu ăn, thiếu mặc, có em bị thương tích… nhưng không bỏ học. Mỗi lần ba tôi và các đồng nghiệp về nghỉ Tết, nghỉ hè là các em buồn lắm, sợ thầy chê vùng quê nghèo khó khăn mà không trở lại nhiệm sở nữa!

Tôi tự hỏi mình sao mới gặp khó khăn đã nản chí. Nhiều thầy cô vẫn gắn bó với trường với lớp mà không đòi hỏi gì. Nhờ vậy tôi vượt qua mọi vất vả của những lần đi lao động ở nông trường. Học xong sư phạm, tôi được phân công về một ngôi trường có cơ sở vật chất khá đầy đủ so với những nơi khác.

Những năm 1990, một số người chuyển ngành để mong có cuộc sống vật chất khá hơn. Ba tôi nhắn nhủ: Theo nghề dạy học thì theo đến cùng. Niềm vui của nghề lớn lắm. Cần cố gắng vượt qua thử thách. Tôi một lần nữa được ba giữ lửa yêu nghề.

Ba còn tích cực làm đồ dùng dạy học. Sáng kiến cải tiến máy đèn chiếu phim dương bản để chiếu tranh ảnh trên giấy bóng mờ của ba được tặng bằng khen của bộ. Năm 1996, ba được tặng huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục. Ba vui. Tôi cũng tự hào.

Ba là tấm gương cho tôi trong giảng dạy. Tôi mạnh dạn cải tiến phương pháp giảng dạy lịch sử. Tôi dự học lớp tin học, trang bị loa laptop, dây điện mang đến lớp mỗi giờ dạy. Tôi tích hợp âm nhạc trong các bài dạy, sử dụng các bài viết trên báo chí để tăng hứng thú, mở rộng kiến thức cho các em. Sở Giáo dục và Đào tạo biết, lại gửi thư khen. Tôi tổ chức các chuyến tham quan hàng chục năm liền an toàn và góp phần nâng cao chất lượng dạy, học sử…

Năm 2000, ba nghỉ hưu vẫn nhắn tôi quan tâm, thương yêu tôn trọng học sinh, tự đổi mới nâng cao chất lượng giảng dạy.

Năm 2003, tôi dự thi và được công nhận đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi môn lịch sử cấp tỉnh. Năm 2006, tôi được tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp giáo dục. Mấy năm sau, tôi giành giải nhất hội thi cấp tỉnh về xử lý tình huống sư phạm của giáo viên chủ nhiệm. Trước khi nghỉ hưu, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh của tôi được một đồng nghiệp viết gửi dự cuộc thi của bộ và đoạt giải nhất toàn quốc. Tôi được đài truyền hình địa phương mời giao lưu với khán giả…

Ba tôi mất, tôi tự hào đã làm đúng những gì ba dạy, xứng đáng với tấm lòng của ba. Chỉ là một thầy giáo bình thường nhưng ba đã dẫn dắt tôi đến thành công trong nghề. Tôi giờ đây rất vui vì có một con trai tiếp nối nghề dạy học. Tôi cũng như ba ngày xưa luôn hết lòng truyền đạt kinh nghiệm sống và giảng dạy cho con. Tôi tin tưởng con sẽ thành công và mãi nhớ đến ba - người thầy kính yêu của tôi: Thầy Nguyễn Văn Nghĩa - giáo viên Trường THCS Võ Thị Sáu (TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Tác giả: Nguyễn Hữu Nhân

Cuộc thi viết "Người thầy kính yêu" là cơ hội để mỗi người có cơ hội bày tỏ tình cảm yêu mến, kính trọng, biết ơn đối với thầy cô đã dạy dỗ, dìu dắt mình. Những bài dự thi viết về Người thầy kính yêu hay, cảm động, đạt giải cao trên đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp bạn đọc viết nên câu chuyện về Người thầy cô kính yêu của riêng mình thật hay và ấn tượng.

Trên đây là các mẫu bài dự thi viết về Người thầy kính yêu hay nhất. Mời các bạn đọc thêm các bài viết liên quan khác trong mục Tài liệu: Bài thu hoạch, bài dự thi của Hoatieu nhé.

Đánh giá bài viết
2 575
0 Bình luận
Sắp xếp theo