Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Mẫu bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" đang là chủ đề "nóng" được nhiều người tham gia cuộc thi "Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức năm 2024 quan tâm. Trong bài viết sau đây, Hoatieu.vn xin chia sẻ những thông tin liên quan đến Dàn ý bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam", Mẫu bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam", Ví dụ về truyền thống yêu nước... để độc giả tham khảo và có hướng đi tốt nhất cho bài dự thi của mình.

Phần 1 và Phần 2 bài viết về Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam 2024 do HoaTieu biên soạn, để nghị không sao chép dưới mọi hình thức.

1. Dàn ý bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Khi viết bất cứ bài viết nghị luận nào, người viết cũng cần có dàn ý cụ thể cho bài, bao gồm những ý chính, thư mục chính cần triển khai. Dưới đây, Hoatieu.vn sẽ thông tin đến bạn đọc Mẫu dàn ý cụ thể cho bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.

Phần I: MỞ BÀI

Hướng dẫn: "Lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" là đề tài rất rộng, khó có thể nêu hết các nội dung chính trong một bài dự thi tối thiểu 500 chữ. Do đó, với một bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" của một cá nhân, người viết nên gắn nội dung "truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" với các hoạt động công tác, học tập, rèn luyện của bản thân hoặc cơ quan, đơn vị hiện tại. Từ đó, nêu bật lên trong bài viết những nội dung về cách làm, thành tích của cá nhân, đơn vị qua quá trình công tác đã thể hiện lòng yêu nước phù hợp với thời đại mới.

Ví dụ: Trải qua hơn nghìn năm Bắc thuộc, kinh qua những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược từ Tống, Nguyên, Thanh đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ trường kỳ mà hào hùng đã cho thấy tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta. Tinh thần ấy kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nhấn chìm mọi bè lũ bán nước và cướp nước, được hun đúc và phát huy trong suốt quá trình phát triển của đất nước.

Đến ngày nay, tinh thần ấy lại được thể hiện rõ trong những phong trào thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước phát động. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất", mỗi tập thể, cá nhân lại có cách phấn đấu học tập, rèn luyện riêng, nỗ lực công tác ở vị trí nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.

Phần II: NỘI DUNG

1. Nội dung truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

1.1. Cơ sở hình thành truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

- Khái quát vị trí địa lý.

- Khái quát quá trình xây dựng các chế độ chính trị và chống ngoại xâm.

=> Cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử. Sự gắn bó làng nước và nước nhà trong dựng nước và đấu tranh giữ nước là cốt lõi văn hóa dân tộc. Tinh thần yêu nước của người, mỗi thành phần dân tộc là một bộ phận của văn hóa Việt Nam; cơ sở cho những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

1.2. Ví dụ về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

- Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xây đắp nên nhiều truyền thống quý báu. Lòng yêu nước của mỗi người là một bộ phận của truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Yêu nước là truyền thống bao trùm và nổi bật nhất đã trở thành sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược thời kỳ trước và là động lực để xây dựng đất nước hiện nay.

- Yêu nước được biểu hiện thành các truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, thông minh sáng tạo, tự lực tự cường, kiên cường bất khuất, đánh giặc giữ nước, truyền thống kính trọng tổ tiên, ông bà cha mẹ; truyền thống hiếu học, kính thầy yêu bạn, quý trọng hiền tài; trọng nghĩa tình, thủy chung, hiếu khách… và nhiều truyền thống tốt đẹp khác.

- Ví dụ về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam gồm:

  • Truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa
  • Truyền thống độc lập tự chủ, tự cường
  • Truyền thống chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc
  • Truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau...

2. Tinh thần yêu nước thể hiện trong xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới

Phần nền bạn đọc cần nêu các phong trào thi đua yêu nước được phát động tại cơ quan, đơn vị bản thân đang công tác, học tập hoặc phong trào thi đua yêu nước, bao gồm: Nội dung phong trào, cách thức thực hiện, kết quả thực hiện mang lại ý nghĩa gì...

=> Khẳng định cần phát huy truyền thống yêu nước trong tập thể và mỗi cá nhân...

3. Kinh nghiệm bản thân

  • Đóng góp của bản thân vào phòng trào thi đua yêu nước tại cơ quan, đơn vị.
  • Đề xuất ý kiến, kiến nghị.

Phần III: KẾT LUẬN

Trong mỗi thời kỳ lịch sử, tinh thần yêu nước luôn có những biểu hiện riêng bởi điều kiện lịch sử khách quan và hệ tư tưởng nhất định nhưng mục đích duy nhất vẫn là bảo vệ và gìn giữ bờ cõi non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước ngày càng văn minh, giàu đẹp.

Là thế hệ tiếp nối, bản thân nhận thấy trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm công dân với việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc, biết ơn những thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc....... 

Trên đây là dàn ý bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" do Hoatieu.vn biên soạn, nhằm đưa đến cho bạn đọc cách nhìn cơ bản về dàn ý của một bài dự thi. Nội dung có thể thay đổi thêm/bớt tùy vào mục đích hướng tới của người viết.

Lưu ý: Nội dung bài viết cần chia tách rõ ràng, mạch lạc để người đọc dễ hình dung, văn phong súc tích, nội dung chi tiết đảm bảo đúng, đủ thông tin. Mục đích cần nêu bật là về chủ đề lịch sử dân tộc và tinh thần yêu nước với cách tiếp cận riêng của từng cá nhân và cảm cách cảm nhận khác nhau về đề tài bản thân lựa chọn.

Phần lớn các tác phẩm viết về chủ đề lịch sử dân tộc và tinh thần yêu nước. Mỗi tác giả lại có một cách tiếp cận và cảm nhận khác nhau về đề tài mình lựa chọn.

2. Mẫu bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" năm 2024

2.1. Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam - Mẫu 1: Tự hào quê hương khởi sắc

MỞ  ĐẦU

Yêu nước là truyền thống nổi bật trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước của người Việt Nam không chỉ là tư tưởng, tình cảm mà đã trở thành triết lý, là chủ nghĩa yêu nước, là ý chí, khí phách, quyết tâm và hành động của mỗi con người.

Trong thời đại ngày nay, tinh thần yêu nước ấy lại được thể hiện bằng nhiều việc làm cụ thể, với mục đích chung là hướng tới xây dựng Tổ quốc, đất nước xứng tầm hội nhập quốc tế.

(Bạn đọc có thể thêm nội dung để bài viết hoàn thiện hơn)

NỘI DUNG

1. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam

  • Khái quát các cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam trong lịch sử:

=> Khẳng định: Thực tiễn dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, gìn giữ bờ cõi, từ thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc đến những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đầu thế kỷ XX. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

2. Phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ hiện nay ở tỉnh........

Nội dung chính: Nêu khái quát các kết quả đã được trong phong trào thi đua yêu nước thười kỳ đổi mới ở địa phương, nơi người viết sinh sống và làm việc. Qua đó khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đã tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, góp phần củng cố, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đưa kinh tế - xã hội địa phương có bước phát triển khởi sắc, vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Trong phần này, Hoatieu.vn xin gợi ý nội dung cụ thể như sau:

Bước vào công cuộc đổi mới, nhất là sau hơn 20 năm tái lập, tỉnh Hà Nam với xuất phát điểm thấp trên một nền kinh tế thuần nông đã chuyển mình mạnh mẽ. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn tỉnh đã có nhiều sáng tạo, nỗ lực phấn đấu và đã đạt được thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vực.

  • Kinh tế: (Những thành tựu cơ bản về kinh tế như: thu nhập bình quân đầu người, thu ngân sách, cơ cấu kinh tế...

- Các phong trào thi đua “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững" và phong trào “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới" đã góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ bức tranh nông nghiệp Hà Nam. Nhiều vùng nông nghiệp chất lượng cao được quy hoạch. Trong đó có những vùng đã thu hút các nhà đầu tư lớn trong nước như VinGroup, Dabaco, Vinamilk... và các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Isarel.

- Phong trào xây dựng nông thôn mới có tính lan tỏa mạnh mẽ. Diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống nông dân được cải thiện.

- Các phong trào thi đua “Lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm", “Sáng kiến - cải tiến kỹ thuật" nhất là phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo" có sức lan tỏa mạnh mẽ đã góp phần làm nên diện mạo Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển.

- Hà Nam tiếp tục là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài

- Các phong trào thi đua trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch được đẩy mạnh. Qua đó, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của tỉnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế góp phần tạo tiền đề đưa Hà Nam trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục - đào tạo, du lịch.

- Công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị được chú trọng theo hướng tổ chức không gian kinh tế đô thị, phát triển chuỗi và chùm đô thị hiện đại. Tiến trình đô thị hóa còn làm cho diện mạo các thị trấn, thị tứ trở nên sôi động và hiện đại hơn.

  • Giáo dục, y tế, văn hóa:

- Sự nghiệp giáo dục, đào tạo của tỉnh Hà Nam đã đạt được kết quả toàn diện cả về quy mô, chất lượng và cơ sở vật chất trường học. Đến nay, đã có trên 310 trường đạt chuẩn Quốc gia, tỷ lệ trường học được kiên cố hóa đạt hơn 90%. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 100%. Việc đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học; rèn luyện phương pháp tự học; chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Các cuộc thi Quốc gia và Olympic quốc tế, Hà Nam đều có học sinh đạt giải và đạt huy chương. Điểm trung bình thi THPT Quốc gia xếp trong tốp đầu toàn quốc.

- Hoạt động đào tạo nghề, lao động chất lượng cao được quan tâm. Các trường nghề được đầu tư về cơ sở, trang thiết bị dạy, học và thực hành đáp ứng với yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao. Mỗi năm tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 55%. Do đó, về cơ bản, nguồn nhân lực đã qua đào tạo đều đáp ứng với yêu cầu công việc của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

- Hoạt động y tế đáp ứng việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh kịp thời. Cơ sở vật chất ngành y tế liên tục được nâng cấp hiện đại, trình độ thầy thuốc được nâng lên đáng kể. Tỉnh được quy hoạch Khu trung tâm Y tế chất lượng cao cấp vùng tại thành phố Phủ Lý với quy mô 940ha và hơn 7000 giường bệnh. Thu hút nhiều bệnh viện lớn tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lão khoa về đầu tư xây dựng cơ sở II tại tỉnh.

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và phong trào, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" được lồng ghép với phong trào xây dựng nông thôn mới. Đến nay, toàn tỉnh có 90% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 92% thôn làng, khu dân cư văn hóa; 33% dân số tập thể dục thể thao thường xuyên.

- Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống được chú trọng...

- Các khu du lịch được đầu tư xây dựng, trong đó điểm nhấn là Khu du lịch Tam Chúc - Ba Sao điều chỉnh mở rộng Quy hoạch lên gần 6.000 ha được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào danh mục các khu du lịch trọng điểm Quốc gia.

- Công tác đền ơn đáp nghĩa được triển khai sâu rộng, phát triển cả về bề rộng và chiều sâu.

- Công tác giảm nghèo được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng. Chương trình giảm nghèo trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ với nhiều giải pháp, tạo tiền đề cơ bản để hộ nghèo cải thiện đời sống, vươn lên thoát nghèo.

3. Phát huy, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hiện nay ở Tỉnh đoàn.....:

 Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Cách tốt nhất để bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Hà Nam nhiệm kỳ 2022 - 2027 đặt ra rất nhiều mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể. Trong đó, xây dựng thế hệ thanh niên Hà Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc...; phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, trách nhiệm của niên trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong hội nhập quốc tế và chuyển đổi số quốc gia...

Để thực hiện tốt phương châm hành động “Khát vọng, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập và phát triển”, thế hệ thanh niên tỉnh Hà Nam ngày nay cần đặt cho mình mục tiêu trở thành những người công dân phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước; có lý tưởng cách mạng, có ý chí lực, tự cường, có hoài bão và khát vọng vươn lên trong mọi hoàn cảnh.

Đoàn viên thanh niên cần phải tích cực học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức, nhất là kiến thức công nghệ mới, có ý chí lập thân, lập nghiệp trong thời kỳ hội nhập; phát huy tinh thần đoàn kết, có bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo của tuổi trẻ để xây dựng quê hương phát triển nhanh và bền vững.

Giải pháp bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là đẩy mạnh việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để việc học và làm theo Bác trở thành hoạt động tự giác và thường xuyên của mỗi đoàn viên; đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên; tập trung tổ chức các hoạt động có tính giáo dục đồng loạt, rộng khắp nhân các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của Đảng, của dân tộc, của Đoàn, Hội, Đội. Đồng thời, tích cực tổ chức các phong trào hành động cách mạng, các chương trình đồng hành với thanh niên, phát huy vai trò của tổ chức Đoàn trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền...

Phối hợp với các nhà trường trên địa bàn duy trì hiệu quả các hoạt động xây dựng trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục, rèn luyện thanh thiếu nhi; xây dựng đề cương tuyên truyền truyền thống văn hóa, lịch sử địa phương, kết hợp hài hòa giữa học chính khoá và ngoại khóa, qua đó góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Các nhà trường tạo điều kiện để các tổ chức đoàn, hội, đội phát huy vai trò, tích cực tham gia quá trình giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên.

KẾT LUẬN

Mang trong mình sức trẻ cùng sự nhiệt huyết, khát khao cống hiến, tuổi trẻ Hà Nam đã, đang khẳng định vị thế, vai trò lớn mạnh của tổ chức đoàn, là cánh tay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng.

Với bản thân tôi, là đoàn viên thế hệ tiếp nối, tôi nhận thấy trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm công dân với việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc, biết ơn những thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc, không chỉ cống hiến sức trẻ xây dựng quê hương giàu đẹp mà còn xây dựng hình mẫu thanh niên thời kỳ mới tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn....

2.2. Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam - Mẫu 2: Thực hiện thi đua ái quốc theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

ìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

1. Lịch sử dân tộc và truyền thống dựng nước, giữ nước:

Lịch sử Việt Nam từ khi ra đời đến nay là lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong quá trình hình thành và phát triển, thực tế lịch sử có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ tư tưởng và các thành quả tinh thần, vật chất của nhân dân ta.

Các giai đoạn lịch sử dân tộc thể hiện tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước bao gồm:

  • Truyền thống dựng nước và giữ nước trong buổi bình minh lịch sử - nước Văn Lang - Âu Lạc (3000 - 179 TCN)
  • Cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ, tiến tới xây dựng quốc gia phong kiến độc lập (từ cuối thế kỷ II trước công nguyên đến đầu thế kỷ X)
  • Công cuộc dựng nước và giữ nước trong thời kỳ phong kiến tập quyền thịnh trị của dân tộc (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV)
  • Công cuộc dựng nước và giữ nước từ thế kỷ XV đến cách mạng tháng Tám thành công (tháng 8-1945)
  • Công cuộc xây dựng nhà nước XHCN và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1945-1975)

(Khái quát các giai đoạn lịch sử cụ thể, khẳng định trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xây đắp nên nhiều truyền thống quý báu, trong đó có tinh thần yêu nước. Đây là truyền thống nổi bật nhất đã trở thành sức mạnh giúp dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược thời kỳ trước và là động lực để xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay)

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho đổi mới về nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, người làm công tác lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong thời kỳ hội nhập, đổi mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, yêu nước không chỉ là tình cảm tự nhiên, mang tính tự phát của từng cá nhân con người mà phải được nhân rộng thành phong trào mang tính chất rộng rãi. Nội dung cơ bản của Người về thi đua ái quốc bao gồm những điểm chính như sau:

  • Thứ nhất, mục đích của thi đua ái quốc: Ở mỗi thời kỳ cách mạng, phong trào thi đua yêu nước lại có mục đích khác nhau, mỗi một đơn vị, cá nhân khi lên kế hoạch thực hiện phong trào thi đua yêu nước cũng có mục đích riêng phù hợp với thực tế công tác, nhưng vẫn thống nhất với tư tưởng quán triệt của Đảng.

Như trong thời chiến, mục đích của phong trào thi đua trước hết là diệt giặc đói, đảm bảo sự sống cho nhân dân; kế đến là diệt giặc dốt, mở mang tri thức cho nhân dân và cuối cùng là diệt giặc ngoại xâm.

Thời điểm hiện tại, phong trào thi đua yêu nước đã được phát động ở tất cả các lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, mọi tầng lớp nhân dân là yếu tố quan trọng góp phần đưa đến sự thành công của phong trào. Mỗi một đơn vị, cá nhân tùy theo lĩnh vực công tác mà đưa ra mục tiêu phấn đấu khác nhau, nhưng tựu chung đều hướng tới xây dựng đất nước cường thịnh, phồn vinh.

  • Thứ hai, nội dung của thi đua ái quốc:

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng nội dung của phong trào thi đua ái quốc là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân khiến cho mọi người tích cực phấn đấu “làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều”, bất kỳ người nào dù “già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá”.

  • Thứ ba, cách thức và phương hướng thi đua ái quốc: nhân dân có vai trò to lớn đưa tới sự thành công của phong trào thi đua yêu nước, mỗi cá nhân cần nỗ lực cố gắng thi đua hoàn thành tốt công việc của mình. Ngoài ra, thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững, phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Kế hoạch thi đua phải được xây dựng chi tiết, tỉ mỉ để mọi người trong tập thể thống nhất, tự giác thực hiện. Việc thực hiện phong trào thi đua yêu nước cần thiết cần gắn với nhiệm vụ, công việc cụ thể; kịp thời nêu gương những cá nhân, tập thể tiên tiến...

Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Theo Người, thi đua là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, làm cho các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn; “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

3. Công an tỉnh ............. thực hiện thi đua ái quốc theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Học tập tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc; những năm qua, Đảng ủy, lãnh đạo Công an tỉnh luôn xác định, việc xây dựng kế hoạch thực hiện các phong trào thi đua yêu nước có vai trò hết sức quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực to lớn thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của toàn lực lượng. Do đó, đã tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức, thực hiện có hiệu quả một số nội dung sau:

- Một là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức phong trào thi đua tạo điểm nhấn riêng biệt, dễ nhớ, dễ thực hiện; các phong trào thi đua yêu nước được tập trung hướng về cơ sở, hướng tới giải quyết những “khâu yếu”, “việc khó”, việc mới phát sinh.

Nhiều phong trào lớn Công an tỉnh tổ chức họp báo tuyên truyền rộng rãi cả về chủ trương, nội dung, hình thức, như: phong trào “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”; đợt thi đua thực hiện chiến dịch 120 ngày, đêm cấp thẻ Căn cước công dân gắn chíp điện tử; phong trào thi đua “Vì người nghèo - không để ai bỏ lại phía sau”; thi đua thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất” và của đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an “Lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”... qua đó đã huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng Công an ngày càng trong sạch, vững mạnh.

- Hai là, bám sát chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, mà trực tiếp là những chủ trương định hướng lớn của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Đảng ủy, lãnh đạo Công an tỉnh đã chủ động ban hành nhiều văn bản làm hành lang pháp lý để hướng dẫn, chỉ đạo bảo đảm tập trung, thống nhất, chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đưa phong trào thi đua, công tác khen thưởng trở thành một biện pháp trụ cột trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các mặt công tác Công an

Qua đó góp phần tạo động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sỹ hăng hái ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Từ thực tiễn trong đổi mới bình xét phân loại thi đua, nhiều đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ đã gương mẫu, tận tụy, xung kích đi đầu trong thực hiện các phong trào thi đua, mạnh dạn đề xuất, đảm nhận những khâu yếu, việc khó, những vấn đề mới phát sinh, do đó, những địa bàn trọng điểm có dấu hiệu phức tạp về an ninh, trật tự đều được tập trung tham mưu giải quyết kịp thời, hiệu quả.

- Ba là, xác định công tác bồi dưỡng, xây dựng điển hình tiên tiến có vai trò hết sức quan trọng, là hạt nhân thúc đẩy các phong trào thi đua, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh đã ban hành Nghị quyết, Kế hoạch về đẩy mạnh công tác phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và nhân điển hình tiên tiến. Hàng năm, Đảng ủy, lãnh đạo Công an tỉnh đều quan tâm tổ chức nhiều hình thức biểu dương, động viên các điển hình tiên tiến như: tổ chức hội nghị giao lưu, biểu dương điển hình tiên tiến; tổ chức cho điển hình tiên tiến đi báo công dâng Bác, đi tham quan, học tập kinh nghiệm thực tế... Qua đó, động viên kịp thời các điển hình tiên tiến tiếp tục ra sức thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn là tấm gương sáng để cán bộ, chiến sĩ học tập, noi theo.

- Bốn là, thực hiện công tác khen thưởng bảo đảm kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch và đúng quy định; chú trọng khen thưởng đối với tập thể nhỏ, lực lượng Công an ở cơ sở và cán bộ, chiến sỹ trực tiếp chiến đấu. Đối với những tập thể, cá nhân lập thành tích đột xuất trong công tác, lãnh đạo Công an tỉnh trực tiếp xuống cơ sở trao thưởng, động viên, khích lệ đối với cán bộ, chiến sỹ; qua đó tạo động lực phấn đấu cho cán bộ, chiến sỹ trong công tác.

=> Kết quả: Với sự chỉ đạo quyết liệt và những giải pháp đổi mới về công tác thi đua, khen thưởng, toàn lực lượng Công an tỉnh đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng, thể hiện bản lĩnh chính trị, ý chí kiên trung, nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao. Tích cực, chủ động nghiên cứu đề ra ......... sáng kiến, cách làm mới, sáng tạo để nâng cao chất lượng, hiệu quả trên tất cả các mặt công tác.

Đặc biệt, nhiều nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách được Đảng ủy Công an tỉnh tổ chức hội nghị quán triệt ngay trong đêm; cán bộ, chiến sỹ các đơn vị, địa phương thực hiện xuyên đêm kể cả ngày lễ, ngày nghỉ để triển khai kịp thời hiệu quả như công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, cấp thẻ CCCD gắn chíp điện tử; bảo đảm an ninh trật tự các lễ hội, sự kiện quan trọng diễn ra trên địa bàn tỉnh, đã tạo được hình ảnh tốt đẹp trong lòng quần chúng nhân dân.

KẾT LUẬN:

(Nêu nhận định của người viết, đưa ra ý kiến để xây dựng phong trào thi đua yêu nước thời kỳ mới)

Khắc ghi lời Bác dạy: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, bản thân là một chiến sỹ CAND, tôi luôn cho rằng yêu nước phải bằng hành động cụ thể. Do đó, thời gian qua, tôi luôn không ngừng học tập, phấn đấu, rèn luyện, thi đua lập nhiều thành tích trong đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật. Làm tốt vai trò tham mưu giữ gìn ANTT, trật tự an toàn xã hội, có nhiều sáng kiến trong xây dựng các trang thông tin phòng chống tội phạm trên các trang mạng xã hội, xây dựng nhiều mô hình đảm bảo ANTT góp phần kiềm chế, kéo giảm tội phạm … trên địa bàn.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, trong nước và địa phương có những thuận lợi và thách thức đan xen, tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường tác động đến an ninh, trật tự. Nhiệm vụ của lực lượng công an sẽ nặng nề hơn với nhiều thách thức. Để góp phần tổ chức, thực hiện hiệu quả các phong trào thi đua, với kinh nghiệm công tác của mình, tôi cho rằng cần thiết phải thực hiện hiệu quả một số nội dung như:

- Nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các phong trào thi đua. Mỗi đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sỹ cần phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ sở, gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân trong tình hình mới, làm cho phong trào thi đua trở thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng trong toàn lực lượng.

- Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm của các đơn vị, địa phương. Trên cơ sở đó nghiên cứu tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, vận dụng những cách làm hay, hiệu quả cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đơn vị.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về các phong trào thi đua, cũng như tuyên truyền về các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.

2.3. Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam - Mẫu 3: Tấm gương tiêu biểu trong phong trào yêu nước thời kỳ mới

MỞ BÀI

Trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên nhiều giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp, nổi bật là tinh thần yêu nước, đoàn kết, tương thân tương ái, nhân nghĩa, bao dung, cần cù, sáng tạo và ý chí kiên cường, bất khuất. Đến nay, tinh thần yêu nước ấy lại được thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau, từ lao động, học tập đến lãnh đạo, chỉ đạo đến thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Ở mỗi tập thể, mỗi cá nhân đang có cách làm riêng để thể hiện tinh thần yêu nước của riêng mình, nhất là ở lớp trẻ. Họ có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước Việt Nam hùng mạnh, là minh chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ và hành động của tầng lớp trí thức trong giai đoạn mới.

NỘI DUNG

Trong những năm qua, từ các phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc, nhiều điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Mỗi tấm gương là bông hoa đẹp góp phần tô thắm thêm truyền thống yêu nước của quê hương, đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển.

Trưởng công an xã tiêu biểu toàn quốc

Nhiệt huyết, năng nổ, sắc sảo trong công việc, sâu sát địa bàn, gần gũi, cởi mở với nhân dân… đó là những lời nhận xét của cấp ủy, chính quyền, đồng chí, đồng đội và nhân dân địa phương dành cho Đại úy Nguyễn Văn H, Trưởng Công an xã ............... Đầu năm 2023 vừa qua, Đại úy Nguyễn Văn H là một trong 75 cán bộ công an xã tiêu biểu vinh dự được Bộ Công an tuyên dương “Thanh niên Công an xã có thành tích xuất sắc” năm 2022.

Bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Xây dựng và nhân rộng các mô hình “Tổ an ninh tự quản ngõ xóm”; phong trào “Ba giảm, bốn giữ”; mô hình “Xã không có tội phạm ma túy”. Đồng thời, thường xuyên xây dựng kế hoạch, phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân thông qua việc lồng ghép nội dung các kỳ sinh hoạt, hội họp của tổ chức đảng, MTTQ, ban, ngành, đoàn thể.

Thực hiện Đề án 06 của Chính phủ về cấp căn cước công dân (CCCD) gắn chíp điện tử và kích hoạt tài khoản định danh điện tử, Đại úy Nguyễn Văn H cùng tập thể đơn vị thực hiện đồng bộ các giải pháp làm sạch dữ liệu dân cư trên địa bàn, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống” theo đúng tiến độ đề ra...

Phối hợp với Tổ công nghệ số cộng đồng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân làm thủ tục đề nghị cấp thẻ CCCD gắn chíp điện tử, cài đặt, kích hoạt tài khoản định danh điện tử và sử dụng các dịch vụ công trực tuyến trên môi trường điện tử… Đến nay, xã ....... là một trong ...... đơn vị công an xã của huyện.............hoàn thành chỉ tiêu “phủ kín” CCCD gắn chíp điện tử cho nhân dân.

Với những thành tích đạt được trong công tác, Đại úy Nguyễn Văn H nhiều năm liền được các cấp, ngành tặng bằng khen, giấy khen;....... Năm 2022, được Bộ trưởng Bộ Công an tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD. Đặc biệt, tháng 3/2023, Đại úy Nguyễn Văn H là một trong 75 cán bộ công an xã tiêu biểu toàn quốc được Bộ Công an tuyên dương “Thanh niên công an xã có thành tích xuất sắc” năm 2022.

Niềm tự hào đảng viên tuổi 18

Sinh năm 2005 tại huyện ............., trường học xa nhà, trong 3 năm trung học phổ thông xa gia đình, Nguyễn Thị Mai An luôn tâm niệm bản thân phải nỗ lực không ngừng trong học tập và rèn luyện, tự đặt cho mình những mục tiêu cao nhất để phấn đấu.

Trong học tập, dù sinh hoạt tại ký túc xá của nhà trường, không có sự dìu dắt hằng ngày của cha mẹ, Mai An xác định phải tự chăm sóc bản thân và kiên trì phấn đấu, làm việc có mục tiêu rõ ràng, phải biết cân đối giữa hoạt động đoàn, đội với nhiệm vụ học tập. An thường chia thời gian biểu theo cách hợp lý nhất để các hoạt động ngoại khóa không làm ảnh hưởng đến kết quả học tập.

Nhất là trong thời gian học lớp 12, ở tâm thế luôn sẵn sàng cho các kỳ thi học sinh giỏi các cấp và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, Mai An vẫn mong muốn tiếp tục phát huy thế mạnh của mình trong công tác đoàn, đội, mang sự nhiệt huyết của mình đồng hành cùng các bạn triển khai nhiều hoạt động phong trào, hoạt động thiện nguyện gắn với rèn luyện bản thân.

Nguyễn Thị Mai An đã đặt mục tiêu rèn luyện và học tập ngay từ khi vào lớp 10 để có thể đứng trong hàng ngũ của Đảng ở bậc phổ thông. Ngoài nỗ lực học, với trách nhiệm là lớp phó học tập của lớp, em luôn tích cực tham gia các hoạt động tập thể do trường, lớp, Đoàn trường tổ chức, như các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia tổ chức ngày hội văn hóa Nga trong hai năm liên tiếp…

Cô giáo Phạm Thùy Linh, giáo viên chủ nhiệm lớp Chuyên Nga cũng đánh giá, Mai An là một học sinh năng nổ và tinh thần tự giác cao, em luôn có phương pháp học tập khoa học và là một học sinh giỏi toàn diện.

Nhờ đó, Mai An luôn đạt điểm khá và giỏi ở các môn học, điểm trung bình môn trong 3 năm học đều đạt 9,1 trở lên.

Đặc biệt, với môn chuyên tiếng Nga, một môn học được coi là khó và mới, Mai An đã có được những thành tích rất xuất sắc, mang về thành tựu cho bản thân An và nhà trường.

Năm lớp 11, Nguyễn Thị Mai An đạt giải nhì cấp tỉnh, huy chương Bạc trong kỳ thi khu vực Duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ, giải Khuyến khích cấp quốc gia môn tiếng Nga.

Đến năm lớp 12, Mai An tiếp tục được chọn vào đội tuyển dự thi và đạt giải Nhất cấp tỉnh, giải Nhì cấp quốc gia và giải Nhất kỳ thi Olympic môn Tiếng Nga.

Bằng sự nỗ lực học tập không ngừng của bản thân, Nguyễn Thị Mai An đã được xét tuyển thẳng vào Học viện Ngoại giao, trúng tuyển trong đợt xét tuyển sớm vào Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Ngoại thương.

Đồng thời, trải qua quá trình không ngừng phấn đấu khi được Chi bộ nhà trường giới thiệu tham gia lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng năm lớp 11 (tháng 3/2022), đến ngày 30/6/2023, Nguyễn Thị Mai An đã trở thành đảng viên mới, đọc lời tuyên thệ thể hiện quyết tâm phấn đấu, luôn xứng đáng là những đảng viên mẫu mực, mẫn cán.

Vinh dự tự hào khi được được đứng vào hàng ngũ của Đảng khi chỉ mới 18 tuổi, Nguyễn Thị Mai An luôn tự nhủ đây sẽ là động lực để bản thân nỗ lực hơn nữa, sống có tinh thần trách nhiệm với những gì mình đã và sẽ làm.

Thời gian tới, khi bước chân vào cánh cửa trường đại học, Mai An đặt mục tiêu tiếp tục cố gắng học tập tốt, đạt thành tích cao, tích cực tham gia các hoạt động của trường lớp, rèn luyện trở thành sinh viên giỏi để không phụ sự kỳ vọng, tin tưởng của gia đình, thầy cô; đóng góp và cống hiến cho lý tưởng của Đảng.

Việc bồi dưỡng, kết nạp đảng viên trẻ là học sinh sẽ tạo môi trường, điều kiện để các bạn trẻ cống hiến, trưởng thành hơn, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

KẾT LUẬN

Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người luôn có vị trí cao quý nhất, quan trọng nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Trong tư tưởng của Người còn trường tồn đến ngày nay luôn chú trọng bồi dưỡng, giáo dục con người, làm cho mỗi người ngày càng được hoàn thiện hơn cả về phẩm chất đạo đức và năng lực cá nhân. Đó chính là những con người mới trực tiếp góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, những con người tô đẹp thêm truyền thống yêu nước của dân tộc trong thời kỳ đất nước đổi mới. Những tấm gương tiêu biểu ấy xuất hiện ở tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, quân sự, đến văn hóa, khoa học, nghệ thuật… Đồng thời, xét về thực chất, những con người mới đó cũng chính là thành quả tốt đẹp nhất, quý giá nhất của sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Trong bồi dưỡng, giáo dục, đào tạo con người mới, ngoài môi trường mang tính chuyên nghiệp thì cần phải giáo dục, đào tạo con người trường học thực tiễn cuộc sống.  Phong trào thi đua yêu nước chính là một loại trường học thực tiễn cuộc sống. Thông qua việc phát động và tổ chức phong trào thi đua yêu nước đã quy tụ được những con người yêu nước thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi tham gia vào trường đào tạo của thực tiễn cuộc sống. Từ phong trào thi đua yêu nước của toàn dân, những con người mới, những tấm gương tiêu biểu cho một xã hội mới được hình thành.

Do đó, thời gian tới, cần có những chính sách cụ thể để phát hiện, bồi dưỡng thêm nhiều tài năng trẻ cho đất nước........ (nêu ý kiến cá nhân)

2.4. Mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam - Mẫu 4: Đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử

Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất.

Giới thiệu khái quát chủ nghĩa yêu nước Việt Nam qua từng thời kỳ:

  • Thời kỳ dựng nước (thời đại Hùng Vương - An Dương Vương)
  • Thời kỳ đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc, giành lại độc lập
  • Thời kỳ phong kiến Việt Nam (938 - 1858)
  • Thời kỳ đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

=> Quá trình thống nhất quốc gia và hình thành dân tộc sớm ở Việt Nam có tác động sâu sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, sự cố kết cộng đồng. Cùng với quá trình thống nhất quốc gia là quá trình hình thành, thống nhất dân tộc, tức quá trình các cộng đồng dân cư gắn bó với nhau trên một cơ sở của tư tưởng, tình cảm chung, trong một nền văn hóa chung.

ìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

2. Những giá trị của tôn giáo đối với đời sống xã hội, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Những đóng góp của tôn giáo trong các cuộc vận động thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

Khi dân tộc ta bước vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thì tôn giáo có vai trò rất lớn. Nghe theo lời kêu gọi, hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân - toàn diện trong 9 năm để đấu tranh chống thực dân Pháp, trong thời gian này chính quyền cách mạng đã nhận được sự nhiệt liệt hưởng ứng của đông đảo đồng bào các tôn giáo.

Các tổ chức tôn giáo yêu nước ra đời như Phật giáo cứu quốc, Công giáo cứu quốc. Nhiều tín đồ của các tôn giáo đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Có thể nói đến những tấm gương tiêu biểu như: Linh mục Phạm Bá Trực (1898-1954), hòa thượng Thích Thế Long (1909-1985), hòa thượng Kim Cương Tử (1914-2001), mục sư Bùi Hoành Thử (1913-1996), Trưởng pháp Cao Triều Phát (1889-1956)… Trường hợp linh mục Phạm Bá Trực là một điển hình của đạo Công giáo. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, linh mục đã mang hết tâm huyết, tài lực để giúp dân, giúp nước, mọi việc làm của linh mục luôn kết hợp giữa đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy với truyền thống yêu nước của dân tộc. Ông đã được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội.

Với Phật giáo, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã có hàng chục nhà sư "cởi áo cà sa khoác chiến bào", tiêu biểu là các nhà sư ở chùa Cổ Lễ, Nam Định. Rất nhiều ngôi chùa đã trở thành cơ sở để nuôi giấu cán bộ, là nơi thành lập chi bộ Đảng, lực lượng vũ trang, du kích, đào hầm bí mật trong chùa để nuôi giấu cán bộ. Một số chùa ở Thái Nguyên là nơi ra đời của các tổ chức cứu quốc quân. Sang đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, một số nhà sư đã lên đường vào nam, chống đế quốc Mỹ.

Vai trò của tôn giáo trong cuộc vận động thi đua yêu nước hiện nay

Đồng bào các tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần tích cực vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mỗi tôn giáo ở Việt Nam dù có đức tin, hệ thống giáo lý, giáo luật khác nhau, nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, trong phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với chức sắc, tín đồ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thời gian qua, các tổ chức tôn giáo ngày càng làm tốt công tác vận động chức sắc, chức việc, tín đồ chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều xây dựng và duy trì đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, như: Công giáo với đường hướng “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Phật giáo với đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; các tổ chức Tin Lành với đường hướng “Sống Phúc âm, Phụng sự Thiên chúa, Phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; các hệ phái Cao Đài với đường hướng “Nước vinh, Đạo sáng”; Phật giáo Hòa Hảo với đường hướng “Vì Đạo pháp, vì Dân tộc”; Hồi giáo với đường hướng “Lẽ sống tốt đạo, đẹp đời”...

Nhiều chức sắc, chức việc có uy tín, đạo hạnh được quần chúng nhân dân tin tưởng, bầu chọn vào các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương và địa phương. Tại các địa phương trên cả nước, chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; xây dựng mô hình “Khu dân cư không có thanh thiếu niên mắc tệ nạn xã hội”; phong trào “Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”...

Ở nhiều nơi, tôn giáo đóng vai trò góp phần từng bước nâng cao tính tự quản của cộng đồng, ý thức trách nhiệm công dân, góp phần bài trừ các tập tục lạc hậu, tăng cường đoàn kết trong nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng đồng bào các tôn giáo.

3. Đồng bào có đạo và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (ở địa phương cụ thể)

Trong quá khứ và hiện tại, các tôn giáo ở Việt Nam đã tích cực tham gia các cuộc vận động thi đua yêu nước, các phong trào và các hoạt động tốt đời đẹp đạo…, qua đó góp phần quan trọng vào công cuộc chung, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Khái quát những kết quả đạt được:

Trên địa bàn tỉnh hiện có 3 tôn giáo chính gồm: Phật giáo, Công giáo và Tin lành với tổng số ............tín đồ, chiếm .............. dân số toàn tỉnh. Những năm qua, hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam phát động và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, sống tốt đời – đẹp đạo” do Uỷ ban đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động, đồng bào công giáo tỉnh ............ cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết chấp hành tốt đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tích cực phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng đời sống văn hóa, tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội …

Hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động do Mặt trận các cấp phát động, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc và tín đồ tích cực giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; xây dựng khu dân cư tự quản về bảo vệ môi trường, khu dân cư không có tội phạm và tệ nạn xã hội, góp phần trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, các tổ chức tôn giáo và tín đồ tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, y tế, dạy nghề; tổ chức tốt các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Trong năm ............, chức sắc các tôn giáo cùng tín đồ và các tập thể, cá nhân hảo tâm, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã ủng hộ hơn ................đồng vào Quỹ “Vì người nghèo”. Từ nguồn tiền ủng hộ đã tiếp nhận, Ban vận động Quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp triển khai xây mới ........... căn nhà “Đại đoàn kết”, sửa chữa ............. căn nhà; hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo phát triển sản xuất; hỗ trợ kinh phí khám-chữa bệnh; hỗ trợ học sinh học tập và chăm lo cho người nghèo, gia đình chính sách nhân dịp lễ, Tết. Nguồn lực này đã góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các tổ chức và chức sắc tôn giáo đã tích cực tuyên truyền, vận động tín đồ tham gia phòng-chống dịch Covid-19. Đồng thời, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa như vận động ủng hộ Quỹ vắc xin với số tiền .............. đồng; ủng hộ nhu yếu phẩm cho hộ nghèo, hộ khó khăn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, các khu cách ly tập trung, lực lượng tuyến đầu chống dịch… với số tiền .................đồng..............

=> Mỗi tôn giáo tại Việt Nam, dù có đức tin, hệ thống giáo lý, giáo luật khác nhau, nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, trong phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo không chỉ lưu giữ, bồi đắp và làm phong phú những giá trị truyền thống văn hóa, mang giá trị nhân văn, đạo đức có ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội; mà còn cụ thể hóa các giá trị đó thành những hành động thiết thực cứu người, giúp đời; góp phần tạo nên sự phong phú, đặc sắc của văn hóa truyền thống dân tộc.

KẾT LUẬN

Nêu ý kiến: Thiết nghĩ, để phát huy được những nguồn lực của tôn giáo, cần phải có quan điểm và chính sách phù hợp, làm sao phải tạo điều kiện để cho các tôn giáo phát huy một cách tối đa nguồn lực của mình vào việc phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hệ thống chính sách pháp luật cần sớm có các quy định cụ thể, rõ ràng và nhất quán để khuyến khích các tổ chức tôn giáo hợp pháp đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước qua việc tham gia xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, dạy nghề.

2.5. Mẫu bài số 5: Xây đắp tinh thần yêu nước qua tìm hiểu lịch sử địa phương

1. Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam (bạn đọc tham khảo dàn ý các mẫu bài dự thi trên)

- Khái quát lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ (Khởi đầu thời kỳ dựng nước đời các vua Hùng đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam...) => Khẳng định lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước, hun đúc lên ý chí, tinh thần yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam...

2. Giáo dục lịch sử địa phương hiện nay tại tỉnh..........

Tình yêu quê hương, đất nước có lẽ là thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong mỗi con người. Tình yêu đó lớn lên từng ngày theo quá trình bồi đắp tri thức, rèn luyện, phấn đấu; là động lực quan trọng thúc đẩy bản thân mỗi người phấn đấu xây dựng quê hương nói riêng và đất nước nói chung.

Trong các môn học ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, môn lịch sử, đặc biệt là phần học lịch sử địa phương có vị trí quan trọng trong giáo dục tình cảm, đạo đức, tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh. Tìm hiểu lịch sử địa phương sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về quê hương nơi mình sinh ra và lớn lên từ đó gợi cho các em niềm tự hào, lòng biết ơn, bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, hình thành ý thức trách nhiệm bản thân trong việc giữ gìn, bảo vệ văn hóa truyền thống, các di tich lịch sử, và trong xây dựng quê hương đất nước.

Tỉnh......... là vùng đất cách mạng giàu truyền thống yêu nước. Nhiều địa danh, danh nhân, con người nơi đây đã gắn liền với những trang chiến tích hào hùng của dân tộc, từ thời kỳ khai hoang đến những năm tháng đấu tranh bảo vệ đất nước oanh liệt. Nơi đây đến ngày nay còn lưu giữ, bảo tồn nhiều địa danh lịch sử, văn hóa, cách mạng; mỗi một di tích ấy là niềm tự hào, bài học lịch sử quý giá cho thế hệ mai sau tìm hiểu và noi theo.

2.1. Tự hào vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử

  • Khái quát các di tích lịch sử ở địa phương (người viết nêu khái quát địa phương có những di tích, cụm di tích nào, bao nhiêu di tích được xếp hạng cấp tỉnh, cấp quốc gia; một vài di tích nổi bật của tỉnh....)

=> Những di sản văn hóa này là nơi lưu dấu thời gian với những trầm tích lịch sử được chuyển giao qua nhiều thế hệ, chứa đựng biết bao thông điệp về quá khứ, kết tụ tinh hoa văn hóa phong phú và đặc sắc của........, là minh chứng rõ ràng nhất cho tinh thần yêu nước, sự cống hiến cao cả của các thế hệ cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, đây cũng là nguồn tài liệu vô giá, cơ sở để đẩy mạnh công tác giáp dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.

Hiện nay, đa số các khu di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh được các cấp ngành chú trọng đầu tư trùng tu, tôn tạo nhằm phát huy giá trị, trở thành nơi để tưởng nhớ, tri ân công đức của những người anh hùng dân tộc, liệt sĩ trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người dân, nhất là tuổi trẻ ngày nay.

2.2. Tìm hiểu truyền thống địa phương qua hoạt động tham quan Bảo tàng và di tích lịch sử, văn hóa

- Những chính sách, kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh trong việc bảo vệ, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử.

- Kế hoạch chỉ đạo của UBND tỉnh trong thực hiện Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ" theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 27/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ; Hướng dẫn số 73 ngày 16/01/2013 của Bộ GD&ĐT, Bộ VH,TT&DL hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên...

- Cùng với đó, thông qua phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", các nhà trường, cơ sở giáo dục cũng đã định kỳ tổ chức giảng dạy môn Giáo dục địa phương, chú trọng lồng ghép nội dung đưa di sản văn hóa quê hương vào bài giảng, tích cực hưởng ứng các cuộc thi tìm hiểu di sản văn hóa địa phương

- Các hoạt động của nhà trường hướng đến khuyến khích học sinh tích cực tìm hiểu lịch sử, truyền thống văn hóa địa phương:

+ Xây dựng giáo áo giảng dạy lịch sử địa phương và phương án giảng dạy chi tiết trong năm học.

+ Hằng năm, vào những dịp kỷ niệm, ngày lễ lớn của dân tộc, các trường tổ chức cho học sinh đến dâng hương tưởng niệm, tham gia dọn vệ sinh, trồng cây xanh quanh khuôn viên các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu, như:...........

- Tại Bảo tàng tỉnh, những năm gần đây ngày càng nhiều buổi học ngoại khóa phong phú, hấp dẫn như: tham quan, học tập tại phòng trưng bày cố định (Lịch sử văn hóa tỉnh........; tỉnh........ thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; Làng nghề thủ công truyền thống......) và các trưng bày chuyên đề, xem phim tư liệu lịch sử, xây dựng video giới thiệu về sự kiện lịch sử, danh nhân văn hóa, trải nghiệm viết thư pháp, các trò chơi dân gian (kéo co, bịt mắt đập niêu…) giúp học sinh được tiếp cận những thông tin, tri thức khoa học, lịch sử, văn hóa một cách hấp dẫn, dễ hiểu.

=> Tìm hiểu truyền thống địa phương qua hoạt động tham quan Bảo tàng và di tích lịch sử, văn hóa không chỉ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức về lịch sử dân tộc, thân thế sự nghiệp của những danh nhân địa phương theo cách mới mẻ, trực tiếp, dễ hiệu, mà qua đó, bản thân học sinh cũng sẽ trở thành "tư vấn viên du lịch" góp phần tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá tới bạn bè gần xa về quê hương mình. Đồng thời, xây dựng nhận thức giữ gìn di sản văn hóa, lịch sử của quê hương, dân tộc, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ, đẩy mạnh chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người tỉnh....... đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

3. Giáo dục lòng yêu nước là mục đích chính của môn học lịch sử địa phương

  • Nhận xét của người viết (trên cương vị đang công tác - giáo viên, người quản lý giáo dục, người làm công tác văn hóa ở địa phương) về hoạt động tìm hiểu, giáo dục lịch sử địa phương.

Theo tôi, không có sự giáo dục truyền thống lịch sử nào thiết thực, sâu sắc hơn việc tạo điều kiện cho học sinh tìm hiểu cụ thể về mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi mà ông bà, cha mẹ các em cùng sống và lập nghiệp qua nhiều năm tháng. Việc tổ chức những tiết học thực tế gắn với các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương là một hình thức giáo dục cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn giáo dục hiện nay. Thông qua trải nghiệm thực tế tại các khu di tích lịch sử, văn hóa góp phần tạo hiệu ứng tích cực, khích lệ học sinh chủ động tìm hiểu lịch sử, văn hóa quê hương, giúp các em nhận thức đầy đủ hơn về những công lao to lớn, sự hi sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ cho sự nghiệp cách mạng, cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân văn hóa. Đồng thời, các em có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về giá trị của những di sản văn hóa, xây dựng ý thức cần phải bảo tồn, giữ gìn những di sản văn hóa giá trị của địa phương và dân tộc; góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu để trở thành những công dân tốt.

  • Nêu một số hạn chế trong công tác giáo dục lịch sử địa phương:

Tuy bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, song việc tìm hiểu, giáo dục truyền thống, lịch sử địa phương vẫn còn một số điểm hạn chế:

+ Một số trường vẫn coi hoạt động giáo dục truyền thống, lịch sử địa phương hòa hoạt động phụ, chưa xây dựng giáo án thường xuyên.

+ Hoạt động đưa học sinh đến tham quan, trải nghiệm tại Bảo tàng và các di tích lịch sử văn hóa chưa diễn ra thường xuyên và chủ yếu tập trung ở một số trường ở nội thành.

+ Chất lượng các buổi học thực tế tại khu di tích đôi khi chưa đạt hiệu quả mong muốn. Học sinh chủ yếu chỉ nghe thuyết minh, giới thiệu khái quát về di tích lịch sử, nội dung hiện vật trưng bày, ít có hoạt động tương tác, tìm hiểu sâu.

+ Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về lịch sử địa phương còn hạn chế; nhiều địa danh lịch sử chưa được giới thiệu, tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong quần chúng, nhất là thế hệ trẻ.

+ Phương pháp giới thiệu về lịch sử, văn hóa địa phương cho các đối tượng chưa có tính hấp dẫn, trong khi môi trường giáo dục đang chịu sự tác động, chi phối của mặt trái cơ chế thị trường, của công nghệ thông tin, mạng xã hội và hội nhập quốc tế.

+ Việc huy động các nguồn lực để xây dựng, tôn tạo, bảo vệ, phát huy các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn còn hạn chế, thiếu đồng bộ...

  • Đánh giá của cá nhân người viết, nêu kiến nghị, đề xuất:

Tôi cho rằng, mục đích của việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu truyền thống lịch sử địa phương nhằm giúp học sinh xây dựng nhân cách, lòng yêu nước, trách nhiệm đối với đất nước, Tổ quốc. Do đó, công giác giáo dục lịch sử địa phương phải nhận được sự quan tâm thiết thực từ các cấp, ngành, đoàn thể, địa phương.

+ Tỉnh ủy, UBND tỉnh cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa của địa phương cho thế hệ trẻ, xem đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cả trước mắt và lâu dài.

+ Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình giảng dạy lịch sử Đảng bộ, lịch sử truyền thống của địa phương, nhằm nâng cao hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo lịch sử.

+ Cần có các ấn phẩm, tài liệu lịch sử, đề cương tuyên truyền thống nhất về lịch sử địa phương giúp các giáo viên biên soạn giáo án hiệu quả hơn...

KẾT LUẬN

Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục lịch sử truyền thống địa phương là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi cần được các cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai đồng bộ. Bởi lẽ, truyền thống lịch sử dẫu lâu đời đến mấy, dẫu anh hùng vĩ đại và có sức hấp dẫn lớn đến mấy vẫn có thể bị mai một nếu như không được kế thừa, giữ gìn, phát huy.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Muốn làm được điều đó thì công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử địa phương cho thế hệ trẻ là rất cần thiết. Đây là hoạt động góp phần giáo dục đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, từ đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

Trên đây Hoatieu.vn đã gửi đến bạn đọc 5 mẫu bài dự thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Người tham gia cuộc thi có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nên chỉnh sửa để phù hợp với mục đích nội dung bài viết, hoàn cảnh, đơn vị công tác của bản thân.

3. Thể lệ cuộc thi "Tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam" năm 2024

Cuộc thi do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; Báo Giáo dục và Thời đại là đơn vị thực hiện. Đây là hoạt động trong Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo của Thủ tướng Chính phủ nhằm đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền lịch sử dân tộc, tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, đoàn kết dân tộc,… các tấm gương tiêu biểu trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ hiện nay cho các đối tượng giáo viên, học sinh, sinh viên.

ìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Cuộc thi được phát động với nội dung và thể lệ sau đây:

Nội dung các tác phẩm dự thi

Nội dung tác phẩm không được hư cấu và tập trung vào các nội dung sau:

- Những giá trị của tôn giáo đối với đời sống xã hội, góp phần phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

- Lịch sử dân tộc, tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, đoàn kết dân tộc;

- Các tấm gương tiêu biểu trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ hiện nay;

- Lịch sử, truyền thống yêu nước, đạo đức lối sống của thanh thiếu niên trong thời đại XHCN, nét đẹp trong phong cách sống và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng xử, các đường lối tư duy thanh tao, tốt đẹp…

- Những gương mặt tiêu biểu của học sinh, sinh viên, giáo viên dân tộc thiểu số, tôn giáo, những mô hình tiên tiến trong bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Đối tượng tham gia

- Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên đã và đang công tác trong ngành Giáo dục;

- Các em học sinh, sinh viên đã và đang học tập tại các cơ sở giáo dục trên toàn quốc;

- Các bậc phụ huynh học sinh và những người quan tâm tới cuộc thi;

- Thành viên tham gia Ban Tổ chức và Ban Giám khảo của cuộc thi không được gửi tác phẩm tham dự.

Thể loại và hình thức trình bày

- Các tác phẩm dự thi phải viết bằng tiếng Việt, mỗi tác phẩm tối thiểu 500 từ (chấp nhận các hình ảnh, video minh họa kèm theo nếu có).

- Các tác phẩm dự thi có thể viết tay hoặc đánh máy, trình bày rõ ràng trên một mặt giấy khổ A4. Nếu đánh máy trình bày bằng cỡ chữ 14, font chữ Time NewRoman.

- Thông tin về tác giả (Họ và tên, đơn vị công tác, địa chỉ, số điện thoại) ghi rõ trên trang đầu tiên của tác phẩm dự thi.

- Các tác phẩm dự thi chưa đăng tải trên sách báo, chưa công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào hoặc gửi dự thi ở các cuộc thi khác do Bộ, Ngành trung ương tổ chức tính từ ngày gửi đến Ban Tổ chức. Tác giả dự thi phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính chân thực, chính xác về nội dung bài dự thi của mình.

- Cuộc thi không hạn chế số lượng tác phẩm dự thi của mỗi tác giả.

Thời gian cuộc thi

Thời hạn nhận tác phẩm dự thi: từ ngày phát động cuộc thi cho đến hết ngày 15/10/2023.

Tác giả gửi tác phẩm dự thi qua thư điện tử: cuocthilichsu.gdtd@gmail.com Các quy định cụ thể về bài dự thi được đăng tải trên Báo Giáo dục và Thời đại điện tử, tại địa chỉ http://giaoducthoidai.vn

Ý nghĩa cuộc thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Cuộc thi Tìm hiểu lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được phát động hằng năm, là sân chơi lớn cho quần chúng nhân dân yêu thích lịch sử, đặc biệt là đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên, phụ huynh học sinh. Tham gia cuộc thi, không chỉ tạo cơ hội cho những người yêu thích tìm hiểu lịch sử, truyền thống yêu nước của dân tộc giao lưu, học hỏi lẫn nhau, mà còn tạo đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng ở lứa tuổi học sinh. Qua đó, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về dân tộc và truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc; các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tự do tôn giáo, giá trị của lòng yêu nước trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, hội nhập.

Đồng thời, thông qua cuộc thi còn góp phần nuôi dưỡng lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu kiến thức lịch sử và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giới trẻ. Định hướng lực lượng thanh niên Việt Nam trong thời đại mới cần cố gắng tu dưỡng, lập thân, lập nghiệp, sống có trách nhiệm hơn.

4. Bài dự thi tìm hiểu về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam ngắn

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt 4000 năm. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhân chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ cứu nước, truyền thống yêu nước đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn về tinh thần, phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, hình thành nên lớp thanh niên có lý tưởng cách mạng vững vàng, quyết hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có lòng yêu nước nồng nàn, toàn dân tộc sao có thể đoàn kết một lòng đánh giặc, thống nhất đất nước.

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, nhưng truyền thống yêu nước vẫn hiện hữu qua từng việc làm dù nhỏ nhất. Mọi người dân, dù ở giai tầng, nghề nghiệp nào cũng đang ngày ngày thi đua lao động, cống hiến sức lực xây dựng Việt Nam vững bước trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế nước nhà trên trường quốc tế. Đặc biệt, khi chúng ta bước qua cơn đại dịch toàn cầu mới thấy tinh thần yêu nước đươc thể hiện rõ hơn bao giờ hết. Mọi người dân Việt Nam, dù sống trên lãnh thổ Việt nam hay kiều bào ở nước ngoài, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến mỗi công dân, từ miền quê xã xôi đến nơi thành thị phố phường, ai cũng gắng sức "chiến đấu" với mục tiêu cao nhất là đưa đất nước vượt qua đại dịch làm rung chuyển toàn cầu - đại dịch Covid-19.

Nổi bật trong trận chiến ấy phải kể đến những y bác sĩ tuyến đầu đã quên ăn, quên ngủ, chấp nhận mọi vất vả và cả hy sinh, "chiến đấu" vì sức khỏe cộng đồng. Những chiến sĩ công an, quân đội không quản ngày đêm trực cắm trong các chốt phòng dịch, bảo vệ an ninh, an toàn cho đồng bào. Nếu coi đại dịch là giặc ngoại xâm phá hoại sự bình yên thì đúng như lời Bác Hồ nói: "...mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy (lòng yêu nước) lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn...".

Cần phải khẳng định, không phải đấu tranh bằng vũ lực mới thể hiện lòng yêu nước. tinh thần yêu nước trong thời bình được thể hiện bằng rất nhiều hình thức. Bởi vậy, thế hệ trẻ ngày nay hãy nhận định đúng đắn về lòng yêu nước, biến tình yêu nước thành vũ khí sắc bén chống lại mọi thế lực thù địch, xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập, đổi mới. Phải nhớ rằng, lòng yêu nước không có sẵn, mà nó được hình thành, phát triển cùng chiều dài lịch sử dân tộc, là kết tinh tinh hoa dân tộc, đòi hỏi thế hệ mai sau phải luôn gắng sức giữ gìn, phát huy, đừng để truyền thống quý báu áy mai một.

5. Cơ sở hình thành truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã được xây dựng từ ngàn đời nay, là kết tinh tinh hoa dân tộc. Vậy truyền thống ấy được hình thành như thế nào, tại sao dân tộc Việt Nam lại có truyền thống yêu nước nồng nàn đến thế?

Trước tiên, chúng ta phải tìm hiểu từ đặc điểm địa lý tự nhiên, các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đây chính là cơ sở để hình thành và bồi đắp nên truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.

Việt Nam nằm ở ven biển, vùng nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên thích hợp cho các nghề đánh bắt thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất nông nghiệp. Vị trí này đem lại nguồn tài nguyên lớn, nhưng cũng mang đến nhiều thách thức về thiên tai. Trong quá trình hình thành đất nước, ông cha ta đã cùng nhau đoàn kết lại, tạo nên sự cấu kết cộng đồng dân cư, xóm làng bền chắc, cùng nhau làm những việc lớn như đắp đê, đào kênh mương, khai thác khoáng sản...

Đồng thời, với vị trí tự nhiên thuận lợi cho giao thương, là cầu nối trên đất liền giữa phần lớn nhất của lục địa Á, Âu với khu vực Đông Á, từ xưa đến nay, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của các nước lớn. Do đó, nói không sai khi lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Quá trình xây dựng nhà nước, chế độ chính trị ở nước ta luôn gắn liên với các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, và điều này đã tác động sâu sắc đến sự hình thành của tinh thần yêu nước, tính tự tôn dân tộc và truyền thống đoàn kết.

Từ thế kỷ III TCN đến nay, không kể những cuộc xâm lấn biên giới nhỏ, dân tộc ta đã phải đương đầu với nhiều cuộc xâm lược quy mô lớn của kẻ thù. Qua hàng nghìn năm lịch sử, kể từ cuộc kháng chiến chống quân Tần, thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong hơn 22 thế kỷ, dân tộc ta đã liên tục đấu tranh với các đế chế phong kiến phương Bắc và đế quốc phương Tây để giữ nước và giải phóng dân tộc. Con đường sống còn của dân tộc khi đó tất yếu phải huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc đế đấu tranh.

Nước ta bao gồm nhiều vùng địa lý với những đặc điểm, lịch sử cụ thể, tạo nên những vùng địa văn hóa khác nhau, góp phần làm đa dạng văn hóa Việt Nam. Do ở vị trí đầu mối tự nhiên của Đông Nam Á, nối liền đại lục với đại duơng, giao tiếp với nhiều dân tộc, văn hóa Việt Nam vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa bên ngoài nhưng vẫn giữ bản sắc riêng của mình. Lòng yêu nước, ý thức dựa vào sức mạnh là chính, Người Việt Nam đã sáng tạo những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần rất đa dạng.

Như vậy, có thể thấy, điều kiện vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa có tác động rất lớn đến sự hình thành truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Cho đến tận ngày nay, nhiều nước lớn đã sớm nhận thấy vị trí địa chính trị quan trọng của Việt Nam, mong muốn gây tầm ảnh hưởng ở Việt Nam. Điều này không chỉ đỏi hỏi Đảng ta phải luôn luôn phát huy trí sáng tạo trong chính sách, chiến lược hòa hiếu, “cân bằng” với các nước để có hòa bình xây dựng đất nước, mà còn đòi hỏi thế hệ trẻ phải luôn giữ vững lý tưởng cách mạng, tiếp thu văn hóa có chọn lọc, có ý thức bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc để xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời kỳ hội nhập.

Mời bạn đọc tham khảo thêm các bài viết hữu ích khác tại mục Bài thu hoạch, bài dự thi trong chuyên mục Tài liệu trên trang Hoatieu.vn nhé. 

Đánh giá bài viết
133 142.514
2 Bình luận
Sắp xếp theo
  • Nguyễn Thanh Tuấn
    Nguyễn Thanh Tuấn

    Cám ơn tác giả, bài viết rất tâm huyết 

    Thích Phản hồi 17:01 09/08
    • Tuaabs vippprooo Traamg
      Tuaabs vippprooo Traamg

      Tại hạ phục rồi.

      Thích Phản hồi 04:55 12/10