Đề thi học kì 2 Ngữ văn 11 sách mới 2024 có đáp án

Đề kiểm tra cuối kì 2 Ngữ văn 11 được Hoatieu chia sẻ đến các bạn đọc trong bài viết sau đây là mẫu đề thi học kì 2 Ngữ văn 11 sách mới 2024 có đáp án vừa mới được các thầy cô giáo biên soạn bám sát với nội dung chương trình môn Ngữ văn 11 sách mới có đầy đủ gợi ý đáp án chi tiết sẽ giúp các em củng cố lại kiến thức thật tốt để đạt kết quả cao khi làm bài thi.

Sau đây là nội dung đề thi cuối kì 2 môn Ngữ văn 11 sách mới, mời các em cùng tham khảo.

Đề thi học kì 2 lớp 11 môn Văn 2024

Đề thi học kì 2 lớp 11 môn Văn 2024

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Lược dẫn: Trong tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng với Thúy Vân và Vương Quan (là hai em của Kiều) đi chơi xuân. Khi trở về, gặp một nấm mộ vô danh ven đường, không người hương khói. Kiều hỏi thì được Vương Quan cho biết đó là mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi danh tài sắc nhưng bạc mệnh.

Lòng đâu sẵn mối thương tâm,

Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Phũ phàng chi bấy hoá công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Sống làm vợ khắp người ta,

Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

Nào người phượng chạ loan chung,

Nào người tích lục tham hồng là ai ?

Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta thắp một vài nén nhang.

Gọi là gặp gỡ giữa đàng,

Họa là người dưới suối vàng biết cho.

Lầm rầm khấn vái nhỏ to,

Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.

Một vùng cỏ áy bóng tà,

Gió hiu hiu thổi một và bông lau.

Rút trâm giắt sẵn mái đầu,

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Lại càng ủ dột nét hoa,

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nxb Dân Trí, Hà Nội, 2013)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 01 đến câu 05:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Đoạn thơ trên có sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nào?

Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép điệp trong 4 câu thơ sau:

Lại càng mê mẩn tâm thần

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Lại càng ủ dột nét hoa,

Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài

Câu 4. Theo Anh/chị, quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà; Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung có còn đúng với xã hội hiện nay không? Lí giải?

Câu 5. Anh/chị có suy nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến sau khi đọc đoạn thơ? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tinh thần sáng lên trong gian khó của những người lính đảo ở đoạn thơ sau:

Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn (trích)

…Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Mặt chúng tôi ngửa lên như đất
Những màu mây sẽ thôi không héo quắt
Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên
Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền
Chúng tôi không cạo đầu, để tóc lên như cỏ
Rồi kháo nhau
Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt
Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Cơn mưa lớn vẫn rập rình ngoài biển
Ánh chớp xanh vẫn lấp loáng phía chân trời...

(Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 2. (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gợi ra từ câu nói: “Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt; hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa” (Ernest Hemingway).

---------- HẾT ---------

Đáp án đề thi học kì 2 lớp 11 môn Văn 2024

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

4,0

1

Thể thơ: lục bát

0,5

2

Phương thức kết hợp: Tự sự và biểu cảm

0,5

3

Hiệu quả của phép điệp:

- Điệp từ “lại”

- Hiệu quả:

+ Nhấn mạnh, làm nổi bật tâm trạng đau đớn, xót xa của Thúy Kiều khi thăm mộ Đạm Tiên.

+ Thể hiện sự đồng cảm, niềm xót thương sâu sắc của nàng Kiều dành cho Đạm Tiên.

+ Nhịp thơ thay đổi, chậm lại; câu thơ sinh động, hấp dẫn.

* Cách cho điểm

- Đáp ứng 01 yêu cầu cho 0,25

- Đáp ứng 02 yêu cầu cho 0,75

- Đáp ứng 03 yêu cầu cho 1,0

1,0

4

- Quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung không còn đúng với xã hội hiện đại.

- Lí giải: Vì trong xã hội hiện đại, nam nữ đã bình đẳng, bình quyền, người phụ nữ không còn bị ràng buộc hay phụ thuộc vào nam giới, họ đã có quyền tự chủ, tự quyết định cuộc đời và số phận của mình.

* Cách cho điểm

- Đáp ứng 01 yêu cầu cho 0,5

- Đáp ứng 02 yêu cầu cho 0,5

1,0

5

Suy nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến sau khi đọc đoạn trích:

- Với quan điểm trọng nam khinh nữ, người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường không có tiếng nói, không tự quyết định được cuộc đời của mình.

- Là phái đẹp, họ vừa được nâng niu, nhưng đồng thời cũng dễ trở thành món đồ chơi, vật đổi trao trong tay người khác

- Khi còn hương sắc, họ được yêu mến, nhưng khi hương sắc tàn phai, họ lại bị chà đạp, hắt hủi, ruồng rẫy, bỏ rơi..

* Cách cho điểm

- Đáp ứng 01 yêu cầu cho 0,25

- Đáp ứng 02 yêu cầu cho 0,75

- Đáp ứng 03 yêu cầu cho 1,0

1,0

II

VIẾT

6,0

1

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tinh thần sáng lên trong gian khó của những người lính đảo ở đoạn thơ trích từ bài thơ Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn của Trần Đăng Khoa.

2,0

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo các cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, móc xích hoặc song hành

0,25

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: phân tích vẻ đẹp tinh thần sáng lên trong gian khó của những người lính đảo ở đoạn thơ được trích.

0,25

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

Gợi ý:

- Đoạn thơ có sử dụng các biện pháp tu từ như phép điệp, phép liệt kê, phép so sánh kết hợp với những từ ngữ giản dị, đời thường, đậm chất lính (kháo nhau) có tác dụng diễn tả niềm mơ ước cháy bỏng của người lính đảo: trời có mưa, có nước ngọt, để cả thiên nhiên và con người trên đảo thỏa khát khao được hồi sinh từ nguồn nước ngọt.

- Từ ước mơ có mưa giữa bốn bề nước biển mặn cho thấy cuộc sống khó khăn vô vàn của người lính giữa đảo xa. Thấy được vẻ đẹp tinh thần của người lính đảo trong sự lạc quan, trẻ trung.

- Đoạn thơ sinh động, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc...

0,5

d.Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp

0,5

e. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết các câu trong đoạn văn

0,25

g. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt hiệu quả, mới mẻ

0,25

2

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về thông điệp được gợi ra từ câu nói: “Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt; hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa” (Ernest Hemingway).

4,0

a. Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận (Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân bài: bàn luận về vấn đề; Kết bài: khẳng định lại vấn đề và rút ra bài học)

0,5

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hạnh phúc đích thực và có ý nghĩa khi ta biết trao đi; hạnh phúc nhỏ bé, hẹp hòi, vị kỉ nếu ta chỉ giữ nó cho riêng mình.

0,5

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm (2,25 đ): HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu, sau đây là một hướng triển khai:

* Giới thiệu và nêu khái quát tư tưởng: quan niệm về hạnh phúc và sự cần thiết phải san sẻ, trao đi hạnh phúc. Trích dẫn câu cách ngôn.

* Giải thích câu nói

- Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc vui mừng và thỏa mãn khi con người đạt được những điều mong ước trong cuộc sống: tiền tài, danh vị, sự nghiệp, học vấn, gia đình, tình yêu…

- Hạt: nhỏ bé, là yếu tố ban đầu, là khởi nguồn, đáng quý nhưng chỉ mãi ở tiềm năng…; hoa: là sự ngọt ngào, đẹp đẽ, đáng trân trọng, nâng niu, làm đẹp cho đời…; giữ trong tay: giữ cho riêng mình; mang ra san sẻ: chia sẻ cho người khác, biết trao đi…

Câu nói có nghĩa là: Hạnh phúc chưa thực sự có ý nghĩa, có giá trị khi ta chỉ giữ nó cho riêng mình. Hạnh phúc chỉ thực sự có ý nghĩa, có giá trị và làm đẹp cho đời khi ta biết trao đi, biết chia sẻ với mọi người.

* Bày tỏ quan điểm và bàn luận

- Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt:

+ Biểu hiện của hạnh phúc “giữ trong tay”: người có nhiều may mắn, thành công nhưng sống cá nhân, vị kỉ, vô tình với người kém may mắn hơn mình.

+ Hậu quả: Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi, hạn hẹp, chỉ thỏa mãn cá nhân, chưa mạng lại ý nghĩa lớn lao cho cuộc đời; cuộc sống chưa thực sự có ý nghĩa (Dẫn chứng)

- Hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa:

+ Biểu hiện của hạnh phúc “san sẻ” “trổ hoa”: luôn quan tâm và sẵn sàng chia sẻ những giá trị vật chất, tinh thần mà mình có với những người bất hạnh quanh mình.

+ Ý nghĩa của hạnh phúc “trổ hoa”: Hạnh phúc được chia sẻ sẽ đem đến niềm vui và những giá trị cho mọi người; làm vơi bớt những bất hạnh trong cuộc sống; người biết chia sẻ hạnh phúc sẽ có được niềm vui, tình yêu thương, sự biết ơn, quý mến….; cuộc sống mới thực sự ý nghĩa; xã hội trở nên tốt đẹp, nhân ái, đầy tính nhân văn… (Dẫn chứng)

* Mở rộng, phản đề

- Phê phán những người chỉ giữ hạnh phúc cho riêng mình…

- Hạnh phúc cần trao cho người xứng đáng…

* Bài học: biết quan tâm, chia sẻ, đem đến niềm vui và những điều tốt đẹp cho nọi người, cuộc sống của ta sẽ có hạnh phúc đích thực...

* Cách cho điểm

- Lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng cụ thể, lập luận chặt chẽ: cho 2-2,5 điểm

- Chỉ nêu lí lẽ, dẫn chứng rời rạc, lập luận chưa thật chặt chẽ: cho 1,0-1,75 điểm

- Lí lẽ sơ sài, không có dẫn chứng: 0,25-0,75 điểm

- Lạc đề: 0 điểm

0,25

0,5

1,0

0,25

0,5

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo đúng chính tả, ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt.

* Cách cho điểm

- Sai từ trên 3 lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt không cho điểm

0,25

e. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ; thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận bằng lí lẽ sắc bén; dẫn chứng mới mẻ, thuyết phục.

* Cách cho điểm

- Đáp ứng 01 yêu cầu cho 0,25

- Đáp ứng 2-3 yêu cầu cho 0,5

0,25

Tổng điểm

10,0

Hoatieu sẽ liên tục cập nhật các đề mới, các em chú ý theo dõi.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trong nhóm Lớp 11 thuộc chuyên mục Học tập của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 49
0 Bình luận
Sắp xếp theo