Năm 2023, có bắt buộc phải đổi sang căn cước công dân?

Theo đúng lộ trình được đề ra tại Luật Căn cước công dân năm 2014, thẻ Căn cước công dân (CCCD) được cấp thống nhất trên cả nước từ năm 2020. Vậy, từ năm này, người dân có bắt buộc đi đổi Chứng minh nhân dân (CMND) sang CCCD không?

1. Sắp đổi mẫu thẻ Căn cước công dân: Người dân có phải làm lại thẻ?

Bộ Công an đang dự thảo Luật căn cước công dân (sửa đổi). Theo nội dung dự thảo được công bố, nhiều thông tin trên thẻ Căn cước công dân có thể sẽ được thay đổi. Vậy mẫu thẻ căn cước theo Luật căn cước công dân sửa đổi có gì khác so với căn cước công dân mẫu cũ và người dân có phải đi làm lại căn cước khi Luật căn cước công dân sửa đổi chính thức được thông qua hay không?

Thay đổi nhiều nội dung trên thẻ Căn cước công dân mới

So sánh Điều 19 dự thảo Luật Căn cước công dân với Điều 18 của Luật Căn cước công dân 2014 (đang có hiệu lực áp dụng), ngoài những thông tin vẫn được giữ nguyên như hiện nay, các thông tin khác trên thẻ Căn cước công dân được dự kiến thay đổi như sau:

Luật Căn cước công dân 2014

Dự thảo Luật Căn cước công dân

Mặt trước

Số thẻ Căn cước công dân

thay bằng: Số định danh cá nhân

Quê quán

thay bằng: Nơi đăng ký khai sinh

Nơi thường trú

thay bằng: Nơi cư trú

Mặt sau

Họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ

thay bằng: Nơi cấp: Bộ Công an

Vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ

Không có

Như vậy:

- “Số thẻ Căn cước công dân” được thay bằng “Số định danh cá nhân”: Trước đây, theo khoản 9 Điều 19 của Luật Căn cước công dân 2014, số thẻ Căn cước dân chính là số định danh cá nhân. Do đó, thực chất dự thảo mới chỉ thay tên gọi, còn số Căn cước công dân của công dân vẫn được giữ nguyên như trước đây.

- “Quê quán” thay bằng “Nơi đăng ký khai sinh”: Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh. Sắp tới, thông tin này dự kiến sẽ được thay bằng “nơi đăng ký khai sinh” của công dân, giúp dễ dàng xác định hơn.

- “Nơi thường trú” thay bằng “Nơi cư trú”: Trong đó, “nơi cư trú” được hiểu là nơi thường trú và nơi tạm trú. Điều này đồng nghĩa với việc dự thảo Luật Căn cước công dân đã ghi nhận cả nơi tạm trú của công dân có thể được in trên thẻ Căn cước công dân, nhằm giải quyết vấn đề công dân không có nơi đăng ký thường trú.

- Họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ thay bằng “Nơi cấp: Bộ Công an”. Hiện nay nơi cấp thẻ Căn cước công dân là “Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội” nhưng công dân thường gặp khó khăn trong việc xác định nơi cấp Căn cước công dân để điền thông tin vào các loại giấy tờ cần thiết, bởi thông tin này không thể hiện rõ trên thẻ mà chỉ có thể xác định gián tiếp thông qua chức danh của người cấp thẻ.

Dự thảo đề xuất Nơi cấp Căn cước công dân là Bộ Công an một cách rõ ràng, ngắn gọn, giúp thuận tiện hơn cho người dân.

- Trên thẻ sẽ không còn vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ, tuy nhiên trong quá trình làm thủ tục cấp Căn cước công dân, cán bộ công an vẫn sẽ phải thu thập vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ. Thông tin này không còn được lưu trên thẻ mà được lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu căn cước để đối chiếu, nhận dạng khi cần.

Ngoài ra, khác so với hiện nay, các thông tin trên thẻ Căn cước công dân sắp tới sẽ được mã hóa, phục vụ cho việc đồng bộ thông tin trên Cơ sở dữ liệu căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Người dân có cần đi đổi sang mẫu thẻ mới?

Hiện nay, dự thảo Luật Căn cước công dân mới được công bố và lấy ý kiến. Nếu dự thảo này được thông qua, sẽ có văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Công an. Trong đó, Bộ Công an sẽ ban hành Thông tư cụ thể về mẫu thẻ Căn cước công dân mới.

Tuy nhiên, có thể thấy, khi đổi sang mẫu mới, thì người dân đang sử dụng Căn cước công dân mẫu cũ (dù là mã vạch hay gắn chip) cũng không cần phải đi làm thủ tục đổi, cấp lại thẻ.

Bởi theo Điều 25 của dự thảo, chỉ các trường hợp sau người dân mới cần làm thủ tục đổi thẻ:

- Đủ 14, 25, 40 và 60 tuổi;

- Thẻ bị hư hỏng không sử dụng được;

- Thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng sinh;

- Xác định lại giới tính hoặc chuyển đổi giới tính theo quy định của luật;

- Có sai sót về thông tin trên thẻ căn cước công dân;

- Thu hồi số định danh cá nhân;

- Thay đổi nơi thường trú;

- Khi công dân có yêu cầu.

Trong các trường hợp sau phải làm thủ tục cấp lại thẻ:

- Bị mất thẻ Căn cước công dân;

- Được trở lại quốc tịch Việt Nam.

Dự thảo này cũng không có nội dung nào quy định về việc công dân đang sử dụng thẻ Căn cước công dân theo mẫu cũ phải đi làm lại thẻ.

Trên đây là thông tin liên quan đến việc người dân có phải đi làm thẻ Căn cước công dân khi sắp đổi mẫu thẻ Căn cước công dân theo dự thảo Luật Căn cước công dân.

2. Năm 2023, người dân có bắt buộc đi đổi CMND sang CCCD?

Theo quy định của Luật Căn cước công dân, kể từ 01/01/2020, tất cả 63 tỉnh, thành trên cả nước thống nhất việc thực hiện cấp CCCD.

Có bắt buộc đổi sang căn cước dùng 2023?
Có bắt buộc đổi sang căn cước dùng 2023?

Hiện nay, CCCD gắn chip đang là loại giấy tờ duy nhất được cấp mới để chứng minh nhân thân của công dân. Điều 19 Luật CCCD quy định, công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi là được cấp thẻ CCCD.

Đối với người dân ở các địa phương đã tiến hành cấp thẻ CCCD, CMND đã được cấp trước ngày 01/01/2016 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ CCCD. Không có quy định bắt buộc người dân đang sử dụng CMND chưa hết hạn phải đổi sang CCCD trong năm nay.

Sau khi đã có CCCD/Chứng minh nhân dân (CMND), công dân bắt buộc phải đổi thẻ CCCD gắn chip mới nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 23 Luật CCCD và Điều 5 Nghị định 05/1999/NĐ-CP như sau:

- Người dùng CCCD khi đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

- Sau 15 năm kể từ ngày cấp CMND.

- Thẻ CCCD/CMND đang sử dụng bị hư hỏng không sử dụng được.

- Công dân thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên.

- Công dân thay đổi đặc điểm nhận dạng.

- Công dân xác định lại giới tính, quê quán.

- Có sai sót về thông tin trên thẻ CCCD/CMND cũ.

- Bị mất thẻ CCCD/CMND cũ.

- Người dùng CCCD được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam.

- Người dùng CMND thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Ngoài các trường hợp bắt buộc trên, Nhà nước khuyến khích người dân làm thẻ CCCD gắn chip bởi thẻ này có nhiều ưu điểm nổi trội như:

- Lưu giữ được nhiều thông tin về nhân thân như: Họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ thường trú, tạm trú, vân tay, hình ảnh, đặc điểm nhận dạng…

- Thông tin bảo mật ở mức cao, chỉ cá nhân, cơ quan được trang bị đầu đọc chip chuyên dụng mới có thể trích xuất thông tin.

- Độ bền tốt, rất khó làm giả

- Tích hợp, thay thế nhiều loại giấy tờ quan trọng như thẻ bảo hiểm y tế, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận tiêm chủng, thẻ công chức, viên chức….

3. Có CCCD gắn chip mới nhưng vẫn sẽ bị phạt?

Trong một số trường hợp đặc biệt, người dân dù đã có thẻ Căn cước công dân (CCCD) gắn chip nhưng vẫn bị phạt vì chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Theo Điều 10 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, người đã có CCCD gắn chip vẫn có thể bị phạt tiền từ 300.000 - 6.000.000 đồng, tùy theo mức độ vi phạm. Cụ thể:

Phạt cảnh cáo/phạt tiền từ 300.000 - 500.000 cho các trường hợp:

- Không xuất trình CCCD khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền.

- Không thực hiện đúng quy định về cấp, đổi, cấp lại CCCD: thẻ CCCD bị hư hỏng không sử dụng được; công dân thay đổi họ, chữ đệm, tên; công dân đã thay đổi đặc điểm nhận dạng; xác định lại giới tính, quê quán; có sai sót về thông tin trên thẻ CCCD; bị mất thẻ CCCD.

- Không nộp lại CCCD cho cơ quan có thẩm quyền khi được thôi, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định nhập quốc tịch Việt Nam.

- Không nộp lại CCCD cho cơ quan thi hành lệnh tạm giam, tạm giữ, thi hành án phạt tù, thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phạt tiền từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng cho các trường hợp:

- Chiếm đoạt, sử dụng CCCD của người khác.

- Tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung của CCCD.

- Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng CCCD.

- Chiếm đoạt, sử dụng CCCD của người khác.

- Tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung của CCCD.

- Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng CCCD.

Phạt tiền từ 2.000.000 - 4.000.000 đồng cho các trường hợp:

- Làm giả, sử dụng giấy tờ, dữ liệu giả để được cấp CCCD.

- Cung cấp thông tin sai sự thật, tài liệu sai sự thật để được cấp CCCD.

Phạt tiền từ 4.000.000 - 6.000.000 đồng cho các trường hợp:

- Làm giả CCCD.

- Sử dụng CCCD giả.

- Thế chấp, cầm cố, nhận cầm cố CCCD.

- Mua, bán, thuê, cho thuê CCCD.

- Mượn, cho mượn CCCD để thực hiện hành vi trái pháp luật.

Mời các bạn tham khảo những bài viết cùng chủ đề khác trong mục Hỏi đáp pháp luật của Hoa Tiêu như là:

Đánh giá bài viết
1 585
0 Bình luận
Sắp xếp theo