Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Nam Định 2022

Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Nam Định 2022 - Mới đây các thí sinh lớp 9 trên địa bàn tỉnh Nam Định đã hoàn thành kì thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên Lê Hồng Phong. Theo đó, các thí sinh tham dự tuyển sinh vào lớp 10 công lập 2022 Nam Định sẽ chính thức làm bài thi vào lớp 10 từ ngày 14/6/2022 với môn thi đầu tiên là Ngữ Văn. Sau đây là nội dung chi tiết đề thi vào lớp 10 môn Văn Nam Định 2022 cùng với đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn tỉnh Nam Định 2022, mời các bạn cùng tham khảo.

1. Đáp án đề thi tuyển sinh lớp 10 môn Văn Nam Định 2022

I. Trắc nghiệm

1.C2.D3.D4.C5.C6.C7.D8.A

II. ĐỌC HIỂU:

Câu 1: Trong đoạn (1), sau khi ngồi bao nhiêu giờ chờ các chuyến bay nhân vật tôi nhận ra mình đã khác xưa:

- Lúc trước mơ về cảm giác được ngồi trong máy bay, giờ thấy khoảnh khắc đứng dưới đất nhìn máy bay lướt trên trời cũng rất tuyệt diệu.

- Lúc trước mơ về những vùng đất mới, những con người mới bây giờ mừng rỡ giữa nơi xa lạ khi bắt gặp giọng nói Việt Nam thân thương.

- Lúc trước mơ về những chuyến đi giờ mong cả những chuyến về.

Câu 2:

Cách giải:

- Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc (Hạnh phúc của tôi còn là...)

- Tác dụng:

+ Tăng sức gợi hình gợi cảm. Tăng khả năng diễn đạt cho đoạn văn.

+ Nhấn mạnh quan niệm về hạnh phúc của tác giả, đó là hạnh phúc khi được trở về nơi mình sinh ra, lớn lên, nơi ấy chính là quê hương.

Câu 3: Cách giải: Học sinh tự đưa ra bài học bản thân cảm thấy ý nghĩa nhất và đưa ra lí giải phù hợp.

Gợi ý:

- Bài học về trân quý những vẻ đẹp bình dị, đời thường.

- Bài học về tình yêu quê hương, đất nước.

II. LÀM VĂN:

Câu 1: Cách giải:

a. Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 15 câu.

b. Yêu cầu về nội dung:

1. Giới thiệu chung: Sự cần thiết phải gắn bó với quê hương xứ sở.

2. Bàn luận

- Giải thích: quê hương xứ sở là nơi con người sinh ra và lớn lên.

- Sự cần thiết phải gắn bó với quê hương xứ sở:

+ Khi gắn bó với quê hương đất nước bản thân mỗi con người sẽ càng thêm yêu cội nguồn từ đó biết trân trọng và yêu thương đất nước mình.

+ Gắn bó với quê hương đất nước tạo ra động lực để con người nỗ lực cống hiến, xây dựng đất nước. Trong quá trình cố gắng ấy, con người tích lũy được nhiều kiến thức để hoàn thiện bản thân hơn.

+ Gắn bó với quê hương đất nước giúp con người cảm nhận được hạnh phúc đến từ những điều giản dị xung quanh mình. Từ đó thêm yêu cuộc sống, cuộc sống cũng vì thế mà trở nên có ý nghĩa hơn.

- Bàn luận, mở rộng:

+ Phê phán những người có tư tưởng xa rời quê hương nguồn cội.

+ Gắn bó với quê hương xứ sở nhưng vẫn luôn tiếp thu, học hỏi sự phát triển của nhân loại.

Câu 2:

Cách giải:

1. Mở bài:

- Giới thiệu chung về tác giả Kim Lân, tác phẩm Làng.

- Giới thiệu nhân vật ông Hai.

2. Thân bài

2.1 Ông Hai là người nông dân có tình cảm gắn bó sâu nặng với làng quê: Ông tha thiết yêu làng Chợ Dầu và rất tự hào về làng mình.

- Khoe làng:

+ Trước cách mạng: Ông khoe con đường làng đi chẳng lấm chân, khoe cái sinh phần của một vị quan lớn trong làng.

+ Sau cách mạng: Ông khoe về một làng Chợ Dầu cách mạng, làng Chợ Dầu chiến đấu.

- Nhớ làng: Ở nơi tản cư:

+ Luôn nhớ về làng và muốn về lại làng Chợ Dầu."

+ Thói quen sang bác Thứ để kể chuyện làng ->kể để nguôi đi nỗi nhớ làng.

+ Tự hào vì làng Chợ Dầu tham gia chiến đấu ủng hộ cách mạng (chòi gác, đường hầm bí mật...)

2.2 Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc

* Lúc mới nghe tin, ông ngạc nhiên đến bàng hoàng, sững sờ:

- Đúng lúc ông Hai đang phấn khởi trước những tin tức thời sự thì nghe những người tản cư bàn về làng Chợ Dầu. Ông quay phắt lại hỏi: “ta giết được bao nhiêu thằng?”-> Câu hỏi cho thấy niềm tin vững chắc vào tinh thần cách mạng của làng mình.

- Vì thế, tin làng theo giặc khiến ông chết lặng vì đau đớn, tủi thẹn:

+Cổ nghẹn đắng.

+ Da mặt tê rần rần.

+ Giọng lạc hẳn đi.

+ Lặng đi như không thở được... -> Đau đớn đến mức như không điều khiển được thân thể của chính mình.

* Từ giây phút đó, ông chìm vào tâm trạng hoang mang, đau khổ, sợ hãi:

- Ông lảng ra chỗ khác rồi về thẳng nhà, nằm vật ra giường chứ không chạy sang hàng xóm khoe làng như thường lệ.

- Ông lo lắng, xót xa, trằn trọc cả đêm:

+ Cho số phận của những đứa con sẽ bị khinh bỉ, hắt hủi vì là trẻ con làng Việt gian;

+ Cho bao nhiêu người làng ở nơi tản cư.

+ Cho tương lại cả gia đình.

- Ông sợ hãi khi phải đối diện với cuộc sống xung quanh:

+ Không dám bước chân ra khỏi nhà.

+Không dám nói chuyện với vợ.

+ Mỗi một tiếng động bên ngoài cũng khiến ông hoang mang.

+ Lúc nào cũng nín thở nghe ngóng và chột dạ, nơm nớp.

* Cái tin ấy còn khiến ông day dứt, giằng xé dữ dội: nhà

- Vì: Ông vừa yêu làng, vừa yêu nước, ông buộc phải lựa chọn giữa hai tình cảm ấy.

- Cuộc đấu tranh trong tâm hồn ông được biểu hiện qua cuộc nói chuyện của ông với đứa con nhỏ:

+ Ông khẳng định: “nhà ta ở làng Chợ Dầu” -> ông muốn con ghi nhớ Chợ Dầu là quê hương, la gốc gác, không được phép quên -> là tình cảm gắn bó máu thịt của ông Hai và của hàng triệu người Việt Nam.

+ Ông lựa chọn “...làng theo Tây thì phải thù”-> tình yêu nước và nhiệt tình ủng hộ kháng chiến của ông Hai. Lựa chọn ấy khiến ông vững vàng hơ và tin rằng đồng bào, đồng chí sẽ hiểu cho ông, cụ Hồ sẽ soi xét cho ông.

->Miêu tả diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, Kim Lân đã phản ánh những nét đẹp mới trong tâm hồn người nông dân sau cách mạng. Cùng với tình yêu làng tha thiết họ còn tràn đầy tình yêu đất nước và nhiệt tình cách mạng.

2. 3. Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính

- Tin cải chính đến cùng tin làng bị đốt, nhà ông Hai cũng bị đốt sạch -> đây là một mất mát lớn đối với người dân.

- Vậy mà, ông vô cùng sung sướng, hạnh phúc:

+Chạy khắp nơi để khoe chuyện Tây đốt làng, đốt nhà mình, khoe cái tên làng theo giặc là sai.

+ Phấn khởi mua quà về chia cho các con.

+ Định nuôi lợn để ăn mừng.

+ Ông như được hồi sinh: lại nhanh nhẹn, sôi nổi, thích nói chuyện với mọi người xung quanh.

-> Cội nguồn của sự thay đổi tâm trạng của ông vẫn là tình yêu làng, yêu nước. Tin cải chính đã trả lại cho ông niềm tự hào về làng Chợ Dầu và niềm tự tin vào bản thân mình. Hai tình cảm lớn lại hòa nhaaph làm một trong tâm hồn người nông dân chất phác và trong danh dự này.

3. Kết bài

- Nội dung: Kim Lân đã miêu tả chân thực, sắc sảo diễn biến tâm trạng ông Hai. Qua đó, nhà văn đã khám phá những nét đẹp nổi bật trong tâm hồn người nông dân Việt Nam:

+ Chất phác, nồng hậu, yêu thiết tha quê hương, đất nước.

+ Lòng nhiệt tình ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến.

- Nghệ thuật:

+ Lối kể chuyện giản dị, tự nhiên, ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ. +Ngòi bút phân tích tâm lí sắc sảo.

+ Kết hợp hài hòa ngôn ngữ độc thoại, đối thoại.

+ Hình ảnh, chi tiết giàu sức gợi.

2. Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 2022 Nam Định môn Văn

3. Đề thi vào lớp 10 chuyên Lê Hồng phong Nam Định môn Văn 2022

ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHON

NĂM HỌC 2022 2023

Môn thi: NGỮ VĂN (Đề chuyên).

Thời gian làm bài: 150 phút,

I. ĐỌC HIỂU (2,5 điểm)

(Đề thi gồm: 01 trang).

Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:

Nếu thường xuyên được blog của tôi, bạn nhận ra ngay tôi rất thích khách sạn Jan Schreder ở New York Cách đây gần 10 năm, lần đầu tiên tôi ở đó khi giới thiệu cuốn sách "The Monk Who Sold His Ferrari " (Tìm về sức mạnh vô biên). Trong cuốn sách "The Greatnness Guide" (Điều vĩ đại giữa đời thường) tôi cũng nhắc đến khách sạn của Schrager ở London, một trong những khách sạn được tựa thích nhất trên thế giới. Tại sao tôi thích khách sạn của Schrager? Bởi vì khi lần đầu hoạt động, chúng không giống với mọi khách sạn khác, giờ đây đa số khách sạn đều có ý tưởng bắt chước Schrager. Chúng rất thú vị đến nỗi bạn sẽ nhớ mãi. Chúng vừa là một chỗ nghỉ đêm vừa là một nơi trưng bày nghệ thuật hiện đại. Chúng dẫn dắt hơn là chạy theo - giống như bao ngành kinh doanh và con người thường thành công khác.

Tôi đang đọc cuốn sách rất hay của Harry Beckwith, “What Clients Love” (Điều khách hàng ưa thích), khi ngồi uống cà phê sáng nay. Tôi hồi tưởng về công việc, về cuộc đời. Trong sách này Breck with trích dẫn câu nói của Schager: "Cứ để hai mươi bốn người khinh thường (khách sạn của tôi) về tất cả những gì tôi đang chăm chút, chỉ cần một trong hai mươi lăm người yêu mến chúng là được". Ý tưởng lớn cho chúng ta: những công ty nào cố gắng làm hài lòng tất cả mọi thứ cho mọi người cuối cùng sẽ chẳng là gì với bất cứ ai. Bạn cần đại diện cho một điều nào đó. Bạn cần mạnh bạo. Đam mê. Nhiệt tình. Để đạt tới đỉnh cao. Hoặc đừng cho gì cả.

(Hãy khác biệt, trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sarma, NXB Trẻ 2014, tr.143)

Câu 1: Trong đoạn trích, nhân vật “tôi” thích khách sạn của Schranger vì điều gì?

Câu 2: Việc trích dẫn ý kiến của Schrager trong đoạn trích có tác dụng như thế nào?

Câu 3: Vì sao tác giả cho rằng “những công ty nào cố gắng làm hài lòng tất cả mọi thứ cho mọi người cuối cùng sẽ chẳng là gì với bất cứ ai”? Câu 4: Bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra sau khi đọc đoạn trích trên? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,5 điểm)

Câu 1: (2,5 điểm)

Lựa chọn tìm kiếm sự an toàn khi đi theo dấu chân của người khác” hay làm “người mở đường” để tìm kiếm lối đi riêng? Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự lựa chọn của mình.

Câu 2: (5,0 điểm)

K.Pauxtopxki cho rằng: “Không có chi tiết thì tác phẩm không sống được. Ý nghĩa của chi tiết ở chỗ, sao cho cái vặt vãnh không dễ nhận thấy lại trở thành to lớn, lấp lánh trước mọi người.”

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích chi tiết “vết thẹo” trên gương mặt người cha và chỉ tiết “cây lược ngà” mà người cha làm tặng con trong đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng để thấy sự to lớn, lấp lánh” của những chi tiết đó.

4. Đề thi vào 10 môn Văn Nam Định 2021

Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn

Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn

5. Đáp án đề thi vào lớp 10 năm 2021 môn Văn Nam Định

I. TIẾNG VIỆT

Câu 1: B

Cách giải: Mong muốn là từ ghép vì hai thành tố tách ra đều có nghĩa

Chọn B

Câu 2: D

Cách giải: Câu văn “Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà” là câu đơn: Chủ ngữ: Mặt anh Vị ngữ: hớn hở như một đứa trẻ được quà

Chọn D

Câu 3: C

Cách giải: Xét về hình thức các câu trên được liên kết với nhau bằng phép thế. (Hắn ta thế cho Thần chết)

Chọn C

Câu 4: A

Cách giải: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là câu tục ngữ

Chọn A

Câu 5: A

Cách giải: Hai biện pháp tu từ được sử dụng là so sánh (Mặt trời với hòn lửa) và nhân hóa (Sóng cài then)

Chọn A

Câu 6: C

Cách giải: Phần in đậm trong câu trên là thành phần phụ chú nhằm giải thích thêm về Vũ Thị Thiết

Chọn C

Câu 7: D

Cách giải: Quan hệ ý nghĩ giữa các vế câu ghép là quan hệ tương phản

Chọn D

Câu 8: B.

Câu nói: Nói có sách mách có chứng nghĩa là: Nói đúng sự thật, có chứng cứ rõ ràng và có thể kiểm chứng được. Tôn trọng phương châm về chất.

Chọn B

II. ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: nghị luận

Câu 2:

- Việc trích dẫn ý kiến của Kim Woo Chung: “Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ. Ước mơ là động lực thay đổi thế giới. Tôi cam đoan rằng tất cả những người đang làm nên lịch sử thế giới ngày hôm nay đều có những ước mơ lớn khi còn trẻ” – có tác dụng:

+ Làm văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu sức thuyết phục.

+ Nhấn mạnh, hãy sống có ước mơ và hoài bão. Vì khi có ước mơ, con người sẽ có động lực để làm thay đổi bản thân và thế giới.

Câu 3:

Cách giải: “Đôi khi ta phải đứng lên chống lại định kiến xã hội để đi theo con đường của mình” vì con đường theo đuổi ước mơ không bao giờ là dễ dàng, nó cũng không an toàn và nhẹ nhàng mà đầy chông gai thử thách, định kiến xã hội không phải lúc nào cũng đúng, cũng phù hợp với đạo đức, lẽ phải. Chúng ta cần có niềm tin vào lý tưởng, ước mơ của mình, đó là điều kiện tiên quyết để theo đuổi ước mơ và cũng là động lực để ta cố gắng mỗi lần gặp phải khó khăn trên hành trình.

III. LÀM VĂN

Câu 1:

1. Mở bài

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: vai trò của ước mơ.

2. Thân bài

a. Giải thích

- Ước mơ: là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài. Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới thành công.

b. Phân tích

- Là kim chỉ nam cho mọi dự định, kế hoạch

- Thôi thúc con người hành động, củng cố thêm niềm tin và sự kiên định.

- Giúp con người huy động tối đa những năng lực, sở trường cũng như sự cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ để đạt được mục tiêu đặt ra.

- Làm cho cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa hơn. Khi biết ước mơ nghĩa là con người biết được mình muốn gì, cần phải làm gì và làm như nào.

c. Chứng minh

- Đưa ra những tấm gương về những con người có ước mơ, hoài bão: Chủ tịch Hồ Chí Minh, NicVujic,... - Ước mơ, hoài bão của học sinh -> thành công

d. Phản biện

- Trong xã hội ngày nay bên cạnh những người có ước mơ, hoài bão cũng có những con người không có ước mơ, sống mơ hồ, không có mục đích sống.

- Để cuộc sống trở nên ý nghĩa, để khẳng định giá trị của bản thân trong cuộc sống, mỗi người cần có ước mơ, dám ước mơ và dám biến ước mơ ấy thành hiện thực.

3. Kết bài

- Khái quát lại ý nghĩa và tầm quan trọng của ước mơ trong cuộc sống; đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.

Câu 2: 

1. Mở bài

- Giới thiệu về tác giả Phạm Tiến Duật và tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" Tác giả:

+ Là nhà thơ khoác áo lính và là một gương mặt tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ kháng chiến chống Mĩ.

+ Hình tượng trung tâm trong thơ ông là người lính và cô thanh niên xung phong.

+ Nghệ thuật: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc. Tác phẩm: Viết năm 1969, được in trong “Vầng trăng quầng lửa”.

- Giới thiệu về đoạn trích: ba khổ thơ cuối bài đã thể hiện tình đồng đội keo sơn, gắn bó và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của những người lính.

2. Thân bài

a. Tinh thần bất khuất và tình cảm keo sơn của những người lính

- Từ trong mưa bom, bão đạn những chiếc xe nối đuôi nhau ra chiến trường, vượt qua núi cao vực sâu của Trường Sơn để về đây “họp thành tiểu đội”, những con người tự bốn phương chẳng quen biết nay đã trở thành bạn bè qua những cái bắt tay vội vã:

+ Hình ảnh cái nắm tay của người lính hiện lên chân thực, cảm động qua “cửa kính vỡ rồi”. Dường như ô cửa kính vỡ chăng làm người lính bận lòng, trái lại nó lại càng làm cho họ có cơ hội gần gũi nhau hơn, xóa đi mọi khoảng cách. Cửa kính bỗng trở thành nhân chứng về sự gắn bó, đoàn kết của những người lính dọc tuyến đường Trường Sơn, Qua cái bắt tay nồng ấm họ trao cho nhau tình cảm thương mến, niềm tin, hi vọng vào một tương lai chiến thắng.

- Trong những giây phút dừng chân ngắn ngủi, họ cùng nhau: “Bếp hoàng cầm...gia đình đấy”

+ Tình đồng đội keo sơn gắn bó được thể hiện qua bữa cơm giữa rừng. Trong giây phút ấy họ chia sẻ bát cơm, chiếc đũa,... với nhau. Chính điều đó giúp họ xích lại gần nhau hơn, gắn bó với nhau như những người ruột thịt trong gia đình.

- Tình cảm keo sơn đã tiếp sức cho các anh, nâng bước giúp các anh tiếp tục lên đường: “Võng mắc...trời xanh thêm”

+ Từ láy “chông chênh” gợi sự không chắc chắn, không vững vàng. Phải chăng đó chính là hình ảnh của con đường Trường Sơn gồ ghề bị tàn phá bởi bom đạn cùng với những chiếc võng lắc lư theo nhịp xe. Câu thơ đã cho thấy những trở ngại, khó khăn, hiểm nguy mà người lính phải đối mặt. Nhưng khí phách, ý chí chiến đấu của họ vẫn kiên định, vượt lên tất cả để họ “lại đi lại đi trời xanh thêm”.

+ Điệp từ “lại đi” lặp lại hai lần cho thấy sự chảy trôi, tiếp nối, gợi ra nhịp hành quân khẩn trương. Từ đó khẳng định tinh thần chiến đấu kiên cường, vững vàng của người lính.

+ Hình ảnh ẩn dụ “trời xanh thêm” lại cho ta thấy tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm vui phơi phới cũng là niềm hi vọng vào tương lai của ngày mai chiến thắng.

b. Ý chí chiến đấu vì miền Nam

- Ngay trong câu thơ đầu tác giả đã tái hiện hình ảnh những chiếc xe không kính, trải qua mưa bom bão đạn chiếc xe đã hư hại và bị biến dạng. Điệp ngữ “không có” được nhắc lại 3 lần không chỉ nhấn mạnh sự thiếu thốn trần trụi của những chiếc xe mà còn tô đậm hiện thực khốc liệt của chiến trường.

- Nhưng bom đạn chỉ có thể làm biến dạng được chiếc xe chứ không thể làm thay đổi được ý chí chiến đấu của những người chiến sĩ, xe “vẫn chạy vì miền Nam phía trước”:

+ Từ “vẫn” vang lên như một sự khẳng định đầy thách thức, hiên ngang của người lính, không gì có thể cản được sự chuyển động kì diệu của những chiếc xe.

+Tác giả sử dụng biện pháp đối lập lấy cái “không có” để khẳng định cái “có” đó là trái tim, một trái tim đầy sức mạnh. Hình ảnh hoán dụ “trái tim” là một biểu tượng đẹp đẽ về vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người lính lái xe. Đó là trái tim cháy bỏng tình yêu nước, sôi trào ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam. Một trái tim đây tinh thần trách nhiệm. Chỉ cần trái tim ấy người lính sẽ có đủ can đảm, dũng cảm để vượt qua mọi khó khăn.

+ Trái tim đó đã trở thành nhãn tự của bài, cô đúc ý toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính, khẳng định chân lý của thời đại: điều làm nên chiến thắng không chỉ là những phương tiện hiện đại mà quan trọng hơn là ý chí, nghị lực, niềm tin vào chính nghĩa.

-> Trái tim người lính tỏa sáng rực rỡ đến muôn thế hệ sau, khiến ta không thể quên những thanh niên trong thời kì chống Mỹ oanh liệt của dân tộc.

c. Đặc sắc nghệ thuật

- Sử dụng biện pháp nghệ thuật đặc sắc, giàu giá trị biểu cảm: so sánh, hoán dụ, điệp từ,...

- Tình đồng đội keo sơn gắn bó như gia đình trong những năm tháng đấu tranh gian khổ. - Tinh thần, ý chí quyết tâm đánh giặc.

3. Kết bài

- Khẳng định lại tinh thần và ý chí chiến đấu, tình cảm gắn bó của những người lính và tài năng nghệ thuật của Phạm Tiến Duật.

- Liên hệ với bản thân và rút ra bài học về sự cống hiến cho đất nước.

6. Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Nam Định 2021

Phần I. Tiếng Việt (2,0 điểm)

Câu 1. (1,0 điểm):

Chỉ ra các phép liên kết hình thức trong những trường hợp sau:

a. Bà lão khẽ thở dài đứng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vẫn vệ tà áo đã rách bợt. (Kim Lân).

b, Người yếu đuối thường hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh. (Nam Cao)

Câu 2. (1,0 điểm)

Xác định nghĩa gốc, nghĩa chuyển, phương thức chuyên nghĩa của các từ “tay” trong những câu sau:

a. Tay tre đã vươn dài đầy sức sống.

b, “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. (Chính Hữu)

c. “Rối ren tay bị tay bầu”. (Nguyễn Duy)

d. Hắn là một tay cờ bạc có hạng.

Phần II: Đọc hiểu văn bản (2,5 điểm)

Đọc văn bản sau:

Năm 1920, có một cậu bé 11 tuổi ở Mỹ đá bóng làm vỡ kính nhà hàng xóm. Họ đòi cầu bồi thường 13 đô la. Lúc bấy giờ 13 độ la là một con số không nhỏ, có thể mua được 125 con gà mái. Cậu bé nhận lỗi với cha, Cha cậu bảo: "Con phải chịu trách nhiệm về việc này Cậu bé rất khó xử: "Con lấy đâu ra nhiều tiên như vậy để trả cho người ta?" Cha cậu lấy ra 13 đô la và nói: “Số tiền này cha cho con mượn, nhưng con phải trả vào năm sau". Từ đó cậu bé vất vả làm thêm, và nửa năm chịu khó cậu đã kiếm được số tiền “không lồ" đó và hoàn trả cho cha. Cậu bé sau này trở thành tổng thống của nước Mỹ - Reagan. Khi nhớ tới câu chuyện này, ông nói, sửa sai bằng chính nỗ lực của mình đã khiến tôi hiểu được thế nào là trách nhiệm,

(Học cho ai? Học để làm gì?, Tiêu Vệ, tr 23-24, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Ghi lại lời của người cha nói với con khi cậu bé nhận lỗi với cha.

Câu 2. Lời nói của người cha có tác dụng như thế nào đối với người con?

Câu 3 Anh/chị có đồng tình với cách ứng xử người cha hay không? Vì sao?

Phần III: Làm văn (5,5 điểm)

Câu 1. (1,5 điểm)

Từ nội dung của văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 20 dòng giấy thi) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải gánh vác trách nhiệm của con người trong cuộc sống.

Câu 2. (4,0 điểm).

"Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp" - K. Pautopxki.

Bằng việc cảm nhận tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi", anh/chị hãy làm rõ "xứ sở của cái đẹp" mà nhà văn Lê Minh Khuê “dẫn đường" cho chúng ta đến?

7. Đáp án đề thi vào lớp 10 năm 2021 môn Văn chuyên Nam Định

Phần I: Tiếng Việt

Câu 1:

Cách giải: Các phép liên kết trong bài lần lượt là:

a. Phép thế (Thị thế cho người đàn bà)

b. Phép đối. (yếu đuối với mạnh, hiền với ác)

Câu 2:

a. Từ “tay” là nghĩa chuyển. Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ.

b. Từ “tay” là nghĩa gốc.

c. Từ “tay” là nghĩa chuyển. Chuyên nghĩa theo phương thức hoán dụ

d. Từ “tay” là nghĩa chuyển. Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ

Phần II: Đọc hiểu văn bản

Câu 1:

Cách giải:

Lời của người cha nói với con khi cậu bé nhận lỗi với cha:

- “Con phải chịu trách nhiệm về việc này”

- “Số tiền này cha cho con mượn, nhưng con phải trả vào năm sau”

Câu 2:

Cách giải: Lời nói của người cha có tác dụng:

- Người cha muốn người con phải biết rõ rằng lỗi lầm mình mắc phải thì nhất định phải chính mình giải quyết nó, không được ỷ lại vào bố.

- Đây như một bài học của người cha dành cho con trai: "có vay, có trả"

- Tạo áp lực để người con phấn đấu, trong vòng 1 năm cần trả lại số tiền đã vay cho cha.

Câu 3: 

Em đồng tình với cách ứng xử của người cha:

- Yêu cầu của cha đặt ra có ý nghĩa là tạo động lực cho cậu bé. Để cậu không ỷ lại và dựa dẫm vào cha.

- Cha có thể hỗ trợ cậu bé lúc đó nhưng cậu bé phải biết tự lập và tự quyết mọi vấn đề của mình.

Phần 3:

Câu 1:

Mở đoạn:

- Giới thiệu về tỉnh thần gánh vác trách nhiệm của con người trong cuộc sống

Thân đoạn:

1. Giải thích:

Tinh thần trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.

2. Biểu hiện của tinh thần trách nhiệm:

- Đối với học sinh: trách nhiệm của chúng ta là học tập thực tốt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của nhà trường, có tính thân yêu nước, chăm lo học tập,....

- Có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, những người xung quanh.

- Đối với công dân: thực hiện tốt quy định của nhà nước, của pháp luật, có trách nhiệm với gia đình và mọi người xung quanh.

- Sống không được ỷ lại và dựa dẫm vào người khác, phải biết tự lập và tự quyết mọi vấn đề của mình.

3. Ý nghĩa của tinh tần trách nhiệm:

- Hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ

- Được mọi người xung quanh quý mến và yêu quý

- Được lòng tin của mọi người

- Thành công trong công việc và cuộc sống

4. Phản đề

- Những người có lối sống ích kỉ, không có tinh thần trách nhiệm,...

III. Kết đoạn:

Nêu cảm nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống

- Tinh thần trách nhiệm là một đức tính tốt đẹp

- Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm

Câu 2:

Cách giải:

1. Mở bài

- Giới thiệu về nhận định

- Giới thiệu về tác phẩm Những ngôi sao xa xôi và tác giả Lê Minh Khuê.

2. Thân bài

Giải thích ngắn gọn:

- Nhà văn chân chính: là nhà văn luôn đặt cái đích vào con người, đem ngòi bút của mình phục vụ cho đời sống, có ích cho con người

- Xứ sở của cái đẹp:

+ Đó là cái đẹp muôn hình muôn vẻ của cuộc đời mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm. Đó là vẻ đẹp trong tự nhiên, trong con người, trong lao động, trong chiến đấuộà nhà văn mang tới cho người đọc.(Cái đẹp của nội dụng tác phẩm)

+ Cái đẹp đó còn là cái đẹp của nghệ thuật của tác phẩm: về ngôn từ, về hình tượng, về kết cấu, các hình thức nghệ thuật sinh động Cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm không chỉ đem lại cho con người khả năng rung động thẩm mĩ mà còn hướng con người tới những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời, làm con người yêu mến cuộc sống hơn. Cho nên niềm vui của nhà văn chân chính là người dẫn đường cho bạn đọc đến với xứ sở của cái đẹp.

b. Xứ sở của cái đẹp trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê

Cái đẹp về nội dung:

- Tâm hồn trong sáng, mộng mơ cùng tinh thần lạc quan dũng cảm giàu nghị lực của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.

- Hình ảnh đẹp của thanh niên, thế hệ trẻ Việt Nam những năm kháng chiến chống Mỹ.

-> Tập trung phân tích vẻ đẹp của ba nữ thanh niên xung phong được miêu tả trong truyện:

- Họ đều là những cô gái thanh niên xung phong còn trẻ, phải xa nhà, xa mái trường đi chiến đấu.

* Nét chung của ba nữ thanh niên xung phong:

- Phẩm chất cao đẹp: tinh thần trách nhiệm cao với công việc, không sợ cái chết

- Dũng cảm, gan dạ: Sẵn sàng nhận nhiệm vụ, dám đối mặt với cái chết mà không nao núng dù nhiều lần họ bị bom vùi và làm bị thương.

- Họ có tinh thần đồng đội gắn bó, thân thiết: thể hiện ở tính tình,sự quan tâm chăm sóc chu đáo khi đồng đội bị thương.

- Nêu bật vẻ đẹp tâm hồn của ba cô gái thanh niên xung phong

+ Là những cô gái trẻ dễ vui, mơ mộng nhưng cũng trầm tư sâu lắng

+ Họ nữ tính thích làm đẹp cho cuộc sống ở chiến trường khói lửa

+ Bình tĩnh, chủ động, lạc quan luôn nghĩ về tương lai

* Nét riêng

- Nho là em út tỉnh nết trẻ con, thích ăn kẹo, có dáng vẻ bé nhỏ, nhẹ nhàng, nhưng rất bản lĩnh, rắn rỏi.

- Chị Thao là người thích làm dáng nhất, ở chị có những nét tính cách tưởng trái ngược nhau:

+ Thích hát bài hát do Phương Định bịa ra nhưng lại không hát trôi chảy bài nào

+ Rất dũng cảm táo bạo nhưng lại sợ máu, sợ vắt

+ Trong cổ có sự nhút nhát mềm yếu của cô gái là cô gái bản lĩnh trong chiến đấu

- Nhân vật Phương Định

+ Là cô gái Hà Nội vào chiến trường 3 năm, hay hoài niệm về quê hương, mẹ, mái trường...

+ Là cô gái hồn nhiên mơ mộng với nhiều nét tính cách thể hiện rất rõ ràng: thích hát, thuộc nhiều bài hát, say sưa tận hưởng cơn mưa hồn nhiên như chưa hề nghe thấy tiếng bom đạn nổ

– Đó là vẻ đẹp trong sáng hồn nhiên, thật đáng yêu

+ Chăm sóc chu đáo cho đồng đội

+Là cô gái nhạy cảm, duyên dáng nhưng không biểu lộ tình cảm, tỏ ra kín đáo trước đám đông, tưởng như kiêu kì nhưng lại tạo nên một sức hút tự nhiên.

+ Nổi bật nhất phẩm chất anh hùng: có tinh thần trách nhiệm với công việc, gan dạ tự tin, thận trọng khi làm nhiệm vụ

+Qua hành động và dòng suy tư của nhân vật tác giả Lê Minh Khuê cho người đọc thấy được thế giới nội tâm phong phú cùng phẩm chất anh hùng của nhân vật -> Hình ảnh họ khiến ta cảm phục, biết ơn và ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân mình.

• Cái đẹp về nghệ thuật của truyện:

- Đẹp, hấp dẫn ngay từ nhan đề: (Giải thích ý nghĩa nhan đề).

- Về ngôn ngữ, ngôn ngữ trần thuật của truyện phù hợp với nhân vật kể chuyện: Phương Định, cô gái xung phong người Hà Nội ra chiến trường - đã khiến cho truyện có được một giọng điệu và ngôn ngữ tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Hà Nội, trẻ trung và đặc biệt giàu chất nữ tính.

- Tác giả thường dùng câu ngắn, nhịp nhanh thể hiện được không khí khẩn trương trong hoàn cảnh chiến tranh. Riêng các đoạn hồi tưởng, nhịp kể chậm lại gợi nhớ một thời tuổi nhỏ đã qua, một thời vô tư hồn nhiên và không khí bình yên trước chiến tranh.

- Nghệ thuật miêu tả tâm lý và tính cách nhân vật đa dạng, sinh động.

>Khẳng định lại nhận định và đánh giá khái quát: Tất cả những cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm chính là sản phẩm của quá trình lao động cực nhọc, sáng tạo và mê say của nhà văn. Nhà văn - người kĩ sự tâm hồn đã đốt cháy mình để có được ánh sáng, niềm vui đưa ta đến bến bờ xứ sở của cái đẹp.

3. Kết bài

Khẳng định lại thiên chức của nhà văn chân chính và giá trị của truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 2.997
1 Bình luận
Sắp xếp theo
  • Mai  Gogatsu
    Mai Gogatsu

    ĐÁP ÁN Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 2022 Nam Định môn Văn

    câu 4 phải chọn B chứ , sao lại chọn C ạ 

    sách giáo khoa tập 1 nó chọn ghi là trà hả thủ ô , sao lại là..hết tuần trà đc

    - Trong các trường hợp trên, nghĩa của từ trà được chuyển theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ? - Cách dùng của từ trà trong: trà a-ti-sô, trà hà thủ ô, trà sâm, trà linh chi, trà tâm sen, trà khổ qua (mướp đắng) là cách dùng với nghĩa chuyển (ẩn dụ), chứ không phải với nghĩa gốc như đã giải thích.

    Thích Phản hồi 19:38 15/06
    • Ban Quản Trị HoaTieu.vn
      Ban Quản Trị HoaTieu.vn

      Em ơi, từ "trà" trong đáp án C là nghĩa chuyển chỉ thời gian em nhé. Đáp án C là hoàn toàn chính xác rồi. Em tham khảo thêm ở bài viết Hết tuần trà là gì?

      Thích Phản hồi 08:08 16/06