Kể lại một truyền thuyết lớp 6 siêu hay
Mua tài khoản Hoatieu Pro để trải nghiệm website Hoatieu.vn KHÔNG quảng cáo & Tải nhanh File chỉ từ 99.000đ. Tìm hiểu thêm »
Kể lại một truyền thuyết lớp 6 là đề bài tập làm văn trong chương trình sách giáo khoa lớp 6 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Dưới đây là top 40 mẫu viết bài văn kể lại một truyền thuyết lớp 6 siêu hay để các em học sinh tham khảo nhằm viết cho mình một bài văn hay và ý nghĩa.
Các truyện truyền thuyết lớp 6 được kể dưới đây là những truyện truyền thuyết rất quen thuộc đối với các em học sinh như: Sơn Tinh Thủy Tinh, Con rồng cháu tiên, Thánh Gióng, Cây khế, Sọ Dừa, Cây tre trăm đốt,... Các em tham khảo để có thêm ý tưởng cho bài làm của mình nhé.
Tập làm văn lớp 6: Kể lại một truyền thuyết
1. Soạn bài Kể lại một truyền thuyết
1. Trước khi nói
a. Chuẩn bị nội dung nói
- Chọn truyền thuyết và ngôi kể:
+ Nên chọn truyền thuyết “Thánh Gióng”
+ Chọn ngôi kể là ngôi thứ ba (giống như ở truyền thuyết mà em đã đọc hoặc đã nghe) hoặc ngôi thứ nhất xưng “tôi”.
- Tóm tắt câu chuyện: ghi các sự việc chính của câu chuyện theo một trật tự hợp lí (thường theo trình tự thời gian trước - sau, quan hệ nguyên nhân - kết quả) để dễ dàng ghi nhớ và kể lại.
- Xác định từ ngữ then chốt về giọng kể thích hợp: nhớ chính xác các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện; xác định đúng những lời nói quan trọng của nhân vật để không bỏ qua khi kể lại; chọn giọng kể phù hợp với nội dung của câu chuyện (sôi nổi, hào hứng, trầm lặng,...).
b. Tập luyện
- Tập luyện một mình hoặc cùng bạn bè, người thân.
- Nên chuẩn bị một số tranh, ảnh, đoạn phim ngắn,... về địa danh, sự việc, hoạt động đó để bài nói của em thêm hấp dẫn.
2. Trình bày bài nói
* Bài nói mẫu tham khảo:
- Thay vì vào bài trực tiếp, chúng ta có thể mở bài gián tiếp
+ Trong chuyến đi: Nhân một chuyến du lịch đến làng Gióng,…. tôi đã được chú/cô hướng dẫn viên kể lại câu chuyện về sự tích nơi này.
+ Khi làm bài tập: Khi được yêu cầu viết một bài văn kể lại câu chuyện truyền thuyết ưa thích, tôi đã nghĩ ngay đến Thánh Gióng.
+ Trong sinh hoạt gia đình: Cha mẹ tôi luôn dạy tôi phải trân trọng lịch sử. Tôi đã được nghe không biết bao nhiêu câu chuyện truyền thuyết, cổ tích trong những bữa ăn/buổi đi chơi. Tối qua, tôi được mẹ kể về Thánh Gióng.
....
- Sau đó dẫn vào câu chuyện:
Đó là câu chuyện từ thời Hùng Vương thứ 6, tại làng Gióng. Có một đôi vợ chồng già vô cùng chăm chỉ, đức hậu nhưng mãi chưa có được mụn con nào. Thế rồi một hôm, bà lão trông thấy một vết chân rất to trên nền đất nên tò mò ướm thử chân vào. Nào ngờ không lâu sau bà mang thai. Điều kì lạ chưa dừng ở đó. Bà lão mang thai đến 12 tháng mới sinh được cậu con trai rất khôi ngô, tuấn tú. Thế nhưng, cậu bé lên 3 rồi mà vẫn chưa thấy nói, thấy cười hay thấy đi, cứ đặt đâu thì nằm đó. Thời đó, giặc Ân hung bạo sang xâm lược nước ta. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, chiến tranh liên miên. Thấy vậy, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi. Nghe vậy, cậu bé lên 3 ấy liền cất những câu nói đầu tiên trong cuộc đời ''Mẹ ra mời sứ giả vào đây''. Khi sứ giả vào, cậu bé bảo ''Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này.''. Nhà vua nghe vậy liền cho thợ làm gấp những vật mà cậu bé dặn dò. Lạ hơn là, sau ngày hôm đó, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mãi không no, áo vừa mặc đã đứt chỉ. Hai vợ chồng làm lụng bao nhiêu cũng không đủ nuôi người con nên phải đành nhờ cậy hàng xóm. Bà con xung quanh đều vui lòng góp gạo nuôi chú bé vì ai cũng muốn quân giặc sớm bị tiêu diệt. Khi sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến cũng là lúc thế nước đang rất nguy vì giặc đã đến gần chân núi Trâu Sơn. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc để đón đầu chúng. Người tráng sĩ lúc này đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Roi sắt gãy thì nhanh trí nhổ cụm tre cạnh đường mà quật giặc đến tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến đó, người cởi áo giáp sắt, một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Cảnh ấy mới thật tráng lệ, hùng vĩ làm sao. Sự góp sức chống giặc của người tráng sĩ được vua nhớ công mà phong là Phù Đổng Thiên Vương. Vua ban lệnh lập đền thờ ngay ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng (hay còn gọi là làng Gióng). Mỗi năm khi đến tháng Tư, làng mở hội to. Nhiều người kể rằng, những bụi tre đằng ngà vì ngựa phun bị cháy mới ngả sang màu vàng óng như vậy, còn những vết chân ngựa lại thành những ao hồ liên tiếp Người ta còn truyền nhau rằng, khi ngựa thét ra lửa đã thiêu cháy một làng cho nên gọi đó là làng Cháy.
- Có thể kết thúc ở đó hoặc mở rộng thêm một số ý như sau:
+ Ý nghĩa truyền thuyết: Truyền thuyết “Thánh Gióng” mang theo ước mơ về người anh hùng chống giặc của nhân dân ta. Đồng thời cũng cho thấy tinh thần kiên cường, bất khuất, không ngại chiến đấu để bảo vệ bờ cõi dân tộc.
+ Kết lại hoàn cảnh mở câu chuyện: Đi du lịch (Buổi thăm quan đến đó là kết thúc, sau khi về nhà trong đầu tôi vẫn không thôi hiện lên hình ảnh Thánh Gióng); trong sinh hoạt (Khi ăn xong bữa cơm, vì quá hứng thú trước câu chuyện mẹ kể mà tôi đã lên mạng tìm hiểu ngay về nó. Càng tìm hiểu, tôi lại càng yêu mến lịch sử, văn hóa nước mình. Tôi đã đề nghị mẹ cho mình một chuyến đi tham quan đến làng Gióng nếu như đợt tới điểm kiểm tra của tôi đạt 9.0.)....
+ Bài học bản thân/Liên hệ bản thân: Qua câu chuyện, tôi hiểu được sự nghiệp gian khổ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, với trách nhiệm của một người công dân nói chung và người học sinh nói riêng, em tự nhắc nhở bản thân phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước.
3. Sau khi nói
Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:
|
Người nghe |
Người nói |
|
- Yêu cầu người nói kể lại hay làm rõ những chi tiết liên quan đến các sự việc được kể. - Nêu nhận xét về bài kể (từ ngữ, giọng kể, độ chính xác về nội dung,...). |
- Bổ sung, làm rõ các chi tiết hoặc diễn biến câu chuyện. - Trao đổi lại các ý kiến nhận xét của người nghe. Cảm ơn và tiếp thu những góp ý, nhận xét xác đáng. |
2. Viết bài văn kể lại một truyền thuyết lớp 6 ngắn gọn
Kể lại một truyền thuyết: Yết Kiêu
Bài văn này thuộc bản quyền của HoaTieu.vn
Trong kho tàng văn học dân gian, có lẽ câu chuyện truyền thuyết cho đến thời điểm hiện tại chinh phục trái tim em là truyền thuyết về danh tướng Yết Kiêu.
Yết Kiêu là một trong những tướng quân nổi tiếng với biệt tài bơi lội không ai sánh bằng. Năm ấy, giặc Nguyên Mông tràn sang nước ta, chúng cho một trăm chiếc tàu lớn tiến vào cửa biển Vạn Ninh. Nhà vua sai sứ giả đi tìm người đánh giặc. Yết Kiêu đã xin tiên phong đi đánh giặc. Chàng chỉ xin vua nhà Trần cho mình vụ khí là một cái dùi sắt, một chiếc búa. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục thuyền giặc. Trong một đêm mà Yết Kiêu đục được hàng chục thuyền giặc, nước tràn vào làm thuyền giặc bị chìm ngay. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại nhẹ nhàng bơi về địa điểm an toàn. Có lần, Yết Kiêu bị vây bắt ở bãi sông. Khi bị chúng tra khảo, Yết Kiêu cũng không hề nao núng mà thông minh đối đáp rằng nước Nam còn rất nhiều người có tài lặn giỏi khiến quân địch vô cùng sợ hãi. Bị giặc dụ dỗ, ông lừa chúng mất cảnh giác để nhảy xuống sông và trốn thoát. Nhờ tài năng bơi lội và lòng dũng cảm, mưu trí, Yết Kiêu sau này lập nhiều công lao, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân.
Cho đến ngày nay, khi đất nước ta đã hòa bình, truyền thuyết về Yết Kiêu vẫn luôn có sức hấp dẫn kỳ lạ. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một người anh hùng của nhân dân. Tên tuổi của ông sẽ mãi mãi được ghi nhớ trong lịch sử dân tộc.
Tham khảo thêm:
- Dựa vào trích đoạn kịch, hãy kể lại câu chuyện của Yết Kiêu
- Viết đoạn văn về câu chuyện Ông Yết Kiêu và cho biết em thích câu chuyện đó ở điểm nào
Kể lại một truyền thuyết: Thánh Gióng
Bài văn này thuộc bản quyền của HoaTieu.vn
Trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam, truyền thuyết về Thánh Gióng vào thời Hùng Vương thứ sáu luôn để lại trong tâm khảm mỗi người niềm tự hào khôn xiết. Đó không chỉ là câu chuyện về một người anh hùng, mà còn là bài ca về ý chí bảo vệ giang sơn của cha ông ta.
Câu chuyện bắt đầu từ một sự tích kỳ lạ. Tại làng Gióng, có đôi vợ chồng già hiền lành nhưng muộn phiền vì chưa có con. Một ngày nọ, sau khi bà lão ướm thử chân mình vào một vết chân lớn trên đồng thì thụ thai và sinh ra một cậu bé khôi ngô. Tuy nhiên, cậu bé ấy lên ba vẫn không biết nói, chẳng biết cười, chỉ lặng lẽ đặt đâu nằm đấy. Sự im lặng của cậu dường như là sự dồn nén cho một thời khắc định mệnh.
Lúc bấy giờ, giặc Ân tràn vào bờ cõi, đất nước đứng trước hiểm họa xâm lăng. Khi tiếng loa cầu hiền của sứ giả vang lên đầu làng, đứa trẻ im lặng ba năm bỗng cất tiếng nói đầu tiên: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây!". Đó là tiếng nói đòi đánh giặc, tiếng nói của lòng yêu nước được khơi dậy đúng lúc. Gióng yêu cầu vua sắm ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt. Kể từ hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ, áo mặc vừa xong đã chật. Sức lớn ấy không chỉ dựa vào gia đình mà còn dựa vào những hạt gạo nghĩa tình của dân làng gom góp. Gióng lớn lên trong vòng tay tiếp sức của cả cộng đồng.
Thời khắc quyết định đã đến. Khi giặc đến chân núi Trâu, Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ mặc giáp, cầm roi, cưỡi ngựa sắt xông pha trận mạc. Ngựa phun lửa rực trời, roi sắt quật giặc chết như ngả rạ. Khi roi sắt gãy, người anh hùng không hề nao núng, nhổ từng bụi tre ngà bên đường làm vũ khí, khiến quân thù khiếp vía dẫm đạp lên nhau tháo chạy.
Sau khi quét sạch bóng giặc, tráng sĩ cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc, cởi bỏ giáp sắt rồi thong thả bay về trời. Người anh hùng không màng danh lợi, chỉ để lại trong lòng dân chúng sự biết ơn vô hạn. Ngày nay, những bụi tre đằng ngà óng vàng hay những ao hồ liên tiếp vẫn còn đó như chứng tích cho sức mạnh phi thường của Thánh Gióng – vị Phù đổng Thiên vương bất tử trong lòng dân tộc.
Tham khảo thêm:
3. Kể lại một truyền thuyết lớp 6
Kể lại một truyền thuyết: Sơn Tinh, Thủy Tinh
Sơn Tinh, Thủy Tinh là truyền thuyết mang nhiều yếu tố kì ảo, câu chuyện được thêu dệt bằng trí tưởng tưởng phong phú của ông cha ta, thể hiện ước mơ hoài bão chinh phục thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống của người dân Lạc Việt trong buổi đầu dựng nước. Chúng ta hãy lắng nghe lại câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để có thể hiểu rõ hơn về thời đại các vua Hùng nhé.
Chuyện kể rằng, vào thời đời Hùng Vương thứ 18, vua có người con gái tên là Mị Nương nàng xinh đẹp tuyệt trần, tính tình hiền dịu. Nàng được cha hết mực yêu thương. Năm ấy, Mị Nương đã đến tuổi lấy chồng, nhà vua muốn tìn cho con gái mình một người chồng tài giỏi xứng đáng với sắc đẹp của Mị Nương. Biết tin nhà vua muốn kén rể, thần núi Tản Viên là Sơn Tinh và thần nước Thủy Tinh đã đến thành Phong Châu để cầu hôn. Cả hai chàng trai đều có tài năng đặc biệt. Sơn Tinh có phép lạ: vẫy tay về phía Đông, phía Đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía Tây, nơi đó mọc lên từng dãy núi đồi. Thuỷ Tinh cũng không kém phần thần thông, chàng ta có thể hô mưa gọi gió. Vua Hùng lấy làm băn khoăn vì cả hai chàng trai đều tài giỏi, bây giờ người không biết chọn ai. Sau một hồi suy nghĩ, nhà vua bèn mời các Lạc hầu vào để bàn bạc, vua đã có quyết định và nói với hai chàng: “Hai chàng trai đều hợp ý ta nhưng ngặt ta chỉ có một người con gái nên ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ gả con gái cho”
Hai chàng tâu hỏi, đồ sính lễ gồm những lễ vật gì nhà vua bèn phán: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao mỗi thứ một đôi”. Hai chàng vâng lệnh nhà vua, về chuẩn bị lễ vật để có thể sớm đến rước nàng Mị Nương về làm vợ. Tờ mờ sáng hôm sau, khi thành Phong Châu còn chìm đắm trong mờ sương. Sơn Tinh đã dẫn đoàn rước dâu nhà trai đến cổng thành cùng đầy đủ lễ vật yết kiến trước vua Hùng cùng quan lại triều đình. Vua Hùng giữ đúng lời hẹn ước, ai mang đầy đủ lễ vật và đến trước ngài sẽ gả con gái cho. Lấy được con gái vua, Sơn Tinh cảm tạ vua Hùng chàng cùng Mị Nương tiễn biệt vua cha rồi quay lại vùng núi Tản Viên.
Sơn Tinh rời đi chẳng bao lâu, thì Thủy Tinh đùng đùng tức giận chỉ vì đến sau mà không lấy được vợ. Chàng tức tốc đem quân đuổi theo để cướp Mị Nương trở lại. Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm sấm sét, bão giông rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn chặn đường Sơn Tinh. Chẳng mấy chốc, nước đã lênh láng ruộng đồng, ngập tràn nhà cửa, dâng lên lưng đồi, sườn núi. Thành Phong Châu mỗi lúc mỗi chìm dần trong nước. Trước tình hình đó, Sơn Tinh lệnh cho người dân muông thú chạy lên núi cao ẩn trốn còn chàng cùng quân lính liên tục ném đá vào lũ thủy quái. Sơn Tinh hóa phép chàng bốc từng quả đồi, ngọn núi dặng dòng chảy của những con nước cuồn cuộn. Nước sông dâng lên bao nhiêu thì đồi núi cao lên bấy nhiêu. Trận chiến diễn ra hết ngày này đến ngày khác. Cuối cùng, Thủy Tinh thấy mình đuối sức, đành ôm hận rút quân về. Người dân thành Phong Châu, lại xuống núi dựng nhà cửa, cấy cày ổn định cuộc sống. Tuy đã rút quân về, nhưng mối thù của Sơn Tinh cũng chẳng nguôi ngoai, Thủy Tinh vẫn ôm hận trong lòng. Năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng đều thua trận.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh vẫn còn nguyên giá trị về bài học ứng phó với thiên nhiên. Khi hằng năm vào mùa mưa tháng 7, tháng 8 âm lịch thường có mưa, lũ lớn chúng ta phải bảo vệ nhà cửa, mùa màng bằng cách đắp đê, trồng rừng ngăn lũ để có thể ứng phó với thời tiết khắc nghiệt.
Kể lại một truyền thuyết: Con Rồng cháu Tiên
Các bạn có biết vì sao nhân dân ta tự xưng là con Rồng cháu Tiên hay không? Điều đó có liên quan đến câu chuyện sau đây:
"Ngày xưa, ngày xửa từ lâu lắm rồi, ở vùng đất Lạc Việt, nay là Bắc Bộ nước ta có một vị thần. Thần là con của Thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng sức khỏe vô địch, thường sống ở dưới nước. Thần giúp dân diệt trừ yêu quái như Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh... Thần còn dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và dạy dân cách ăn ở sao cho đúng nghĩa.. Khi làm xong thần trở về Thủy cung sống với mẹ lúc có việc cần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có vị tiên xinh đẹp tuyệt trần là con gái Thần Nông tên là Âu Cơ. Nàng nghe nói ở vùng Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm. Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau đem lòng yêu nhau rồi trở thành vợ chồng chung sống ở Long Trang. Chung sống với nhau được chừng một năm, Âu Cơ mang thai. Đến kì sinh nở, Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra một trăm đứa con da dẻ hồng hào. Không cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi mặt mũi khôi ngô tuấn tú, đẹp đẽ như thần. Cuộc sống hai vợ chồng đã hạnh phúc lại càng hạnh phúc hơn.
Một hôm, Lạc Long Quân chợt nghĩ mình là dòng giống nòi rồng sống ở vùng nước thẳm không thể sống trên cạn mãi được. Chàng bèn từ giã vợ và và con về vùng nước thẳm. Âu Cơ ở lại chờ mong Lạc Long Quân trở về, tháng ngày chờ đợi mỏi mòn, buồn bã. Nàng bèn tìm ra bờ biển, cất tiếng gọi:
- Chàng ơi hãy trở về với thiếp.
Lập tức, Lạc Long Quân hiện ra. Âu Cơ than thở:
- Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không ở lại cùng thiếp nuôi dạy các con nên người?
Lạc Long Quân bèn giải thích:
- Ta vốn dĩ rất yêu nàng và các con nhưng ta là giống nòi Rồng, đứng đầu các loài dưới nước còn nàng là giống tiên ở chốn non cao. Tuy âm dương khí tụ mà sinh con nhưng không sao đoàn tụ được vì hai giống tương khắc như nước với lửa. Nay đành phải chia lìa. Ta đem năm mươi người con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc cần phải giúp đỡ lẫn nhau, đừng bao giờ quên lời hẹn này.
Rồi Lạc Long Quân đưa năm mươi người con xuống nước còn Âu Cơ đưa năm mươi người con lên núi.
Người con trai trưởng đi theo Âu Cơ sau này được tôn lên làm vua và đặt tên nước là Văn Lang, niên hiệu là Hùng Vương. Mỗi khi vua chết truyền ngôi cho con trai trưởng. Cứ cha truyền cho con tới mười mấy đời đều lấy niên hiệu là Hùng Vương."
Do vậy, cứ mỗi lần nhắc đến nguồn gốc của mình Người Việt chúng ta thường tự xưng là con Rồng cháu Tiên và thân mật gọi nhau là đồng bào vì ai cũng nghĩ mình là cùng một bọc sinh ra cho nên người trong một nước phải thương yêu nhau như vậy. Câu chuyện còn suy tôn nguồn gốc cao quý thiêng liêng của cộng đồng người Việt và tự hào về nguồn gốc của dân tộc mình.

Kể lại một truyền thuyết: Bánh chưng, bánh giầy
Bánh chưng là loại bánh truyền thống không thể thiếu trong mỗi gia đình Việt Nam vào ngày Tết Nguyên Đán hàng năm. Vậy bạn có biết ý nghĩa, nguồn gốc của loại bánh này không? Ai là người đã tạo sáng tạo nên bánh chưng? Hãy cũng tôi vượt thời gian, trở về thời vua Hùng để tìm hiểu khám khá về nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy qua truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy nhé.
Vào thời vua Hùng Vương, khi ấy nhà vua đang trị vì đất nước đã cao tuổi, muốn tìm một hoàng tử đủ đức, đủ tài, hiếu thảo để truyền ngôi. Ông muốn người kế vị cai quản, bảo vệ giang sơn, đất nước phải là người có tài đức, lý tưởng như ông chứ không nhất thiết phải làm con trưởng. Điều đó gây nên một trận xôn xao trong các hoàng tử. Cuối cùng nhà vua ra chỉ rằng: Vào ngày lễ tiên vương, ai làm ra được một món ăn vừa ngon, lại ý nghĩa, được lòng tất cả mọi người thì sẽ được nối ngôi. Chiếu chỉ vừa ra, tất cả các hoàng tử đều ra sức tìm kiếm những món ngon quý hiếm, sơn hào hải vị từ khắp nơi, chỉ mong làm hài lòng vua cha.
Trong lúc ấy, chỉ có người con trai thứ mười tám của ngài - hoàng tử Lang Liêu là chẳng làm gì cả. Bởi chàng có cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn. Nhà chàng chỉ có thóc lúa là nhiều, chứ chẳng có gì cả. Vậy nên, chàng tự bỏ mình ra khỏi cuộc đua giành ngôi báu. Một hôm trong khi nằm mơ, chàng được một vị thần báo mộng, chỉ cho cách làm món bánh ngon, giàu ý nghĩa từ gạo nếp. Nghe theo lời dạy của thần, Lang Liêu chọn thứ gạo nếp thơm lừng, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Để đổi vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn. Đến ngày lễ tiên vương, món bánh của Lang Liêu trở thành món bánh vua cha ưng ý nhất. Các cận thần cũng trầm trồ khen ngon. Đã thế món bánh còn rất giàu ý nghĩa, tượng trưng cho sự hòa hợp của đất trời. Vì vậy, thuận lí thành chương, Lang Liêu được vua Hùng chọn trở thành người kế vị. Cũng từ đó, cứ đến dịp Tết, nhân dân ta lại đem gạo nếp ra làm bánh chưng, bánh giầy để đặt lên mâm thờ tổ tiên.
Tục lệ ấy đến bây giờ vẫn còn được giữ. Bởi món bánh ấy không chỉ ngon mà còn giàu ý nghĩa nữa. Nếu thiếu đi bánh chưng thì nghĩa là cái Tết ấy chẳng còn trọn vẹn nữa rồi.
Kể lại một truyền thuyết: Hồ Gươm
Bài văn dưới đây thuộc bản quyền của HoaTieu.vn
Lúc bấy giờ, quân Minh sang xâm lược nước ta, gieo rắc lầm than và bóc lột nhân dân đến tận xương tủy. Chứng kiến nỗi thống khổ của trăm họ, tại vùng núi Lam Sơn, chủ tướng Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa. Tuy nhiên, những ngày đầu lực lượng còn non trẻ nên đội quân thường xuyên rơi vào thế yếu, gặp muôn vàn trắc trở.
Hồi ấy, ở vùng đất Thanh Hóa có chàng ngư dân tên là Lê Thận. Một đêm thả lưới, chàng liên tiếp kéo được một thanh sắt. Dù đã vứt xuống sông tới ba lần, vật ấy vẫn quay trở lại, Thận thấy lạ lùng nên quyết định mang về nhà. Về sau, khi gia nhập hàng ngũ khởi nghĩa, chàng trở thành một chiến sĩ vô cùng dũng cảm.
Trong một lần đến thăm tư gia của người thuộc cấp này, vị minh chủ bỗng thấy phía góc nhà lóe sáng. Tiến lại gần, ông phát hiện hai chữ “Thuận Thiên” khắc trên lưỡi gươm xưa. Sự kỳ lạ chưa dừng lại ở đó. Một lần bị giặc truy đuổi vào rừng sâu, chính Lê Lợi đã tình cờ nhặt được một chiếc chuôi nạm ngọc quý giá trên ngọn cây đa. Khi mang về ghép thử với lưỡi gươm ở nhà Thận, hai phần vừa khít như một sự sắp đặt của thiên mệnh.
Kể từ khi sở hữu báu vật thần kỳ, khí thế của nghĩa sĩ Lam Sơn dâng cao mạnh mẽ. Thanh thế của họ vang xa khắp mọi miền, đánh đâu thắng đó, khiến quân xâm lược phải tháo chạy về nước. Sau khi dẹp tan quân Minh, Ngài lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ.
Một năm sau ngày đại thắng, khi đang dạo thuyền trên hồ Tả Vọng, nhà vua bất ngờ thấy một con Rùa Vàng nổi lên trên mặt nước xanh biếc. Thần Kim Quy dõng dạc nói:
-
Việc lớn đã thành, xin Bệ hạ hoàn lại gươm báu cho đức Long Quân.
Hiểu ý trời, Ngài trân trọng trao trả thanh bảo kiếm. Rùa gật đầu rồi lặn sâu xuống đáy hồ. Kể từ đó, nơi đây chính thức mang tên Hồ Hoàn Kiếm – biểu tượng cho khát vọng hòa bình và chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
4. Kể lại chuyện cổ tích
Kể lại chuyện cổ tích: Cây khế
Ngày xửa, ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Người anh tham lam, khi chia gia tài liền chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. Người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho mảnh vườn và cây khế.
Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em ra quả rất sai. Từng chùm quả chín vàng nhưng nặng lúc lỉu trên cành. Người em nhìn cây khế mà vui mừng, tính đem bán để lấy tiền mua gạo. Một hôm, có con chim lạ từ đâu bay đến ăn khế. Thấy cây khế bị chim ăn xơ xác người em ôm mặt khóc. Chim bỗng cất lời:
"Ăn một quả trả một cục vàng
May túi ba gang, mang đi mà đựng"
Người em nghe chim nói tiếng người lấy làm kinh ngạc, bèn về kể cho vợ nghe. Hai vợ chồng may một chiếc túi vừa đúng ba gang, chờ chim đến. Hôm sau, chim bay đến, bảo người em ngồi lên lòng mình. Chim bay rất xa, dên một hòn đảo đầy vàng bạc giữa biển khơi bao la. Người em lấy vàng bỏ đầy túi ba gang rồi lại theo chim trở về nhà. Từ đó, người em trở nên giàu có.
Người anh nghe thấy em giàu liền sang chơi và lân la hỏi chuyện. Em không giấu giếm kể lại cho anh tường tận mọi điều. Người anh nằng nặc đòi đổi nhà cửa ruộng vườn của mình lấy mảnh vườn và cây khế, người em dù không muốn nhưng thấy anh cương quyết quá cũng đành đổi cho anh.
Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu những quả vàng chín mọng, người anh khấp khởi mừng thầm, ngày ngày ngóng chờ con chim lạ tới. Thế rồi một hôm, chim tới ăn khế, người anh giả vờ khóc lóc, chim cũng nói:
"Ăn một quả trả một cục vàng
May túi ba gang, mang đi mà đựng"
Người anh nghe vậy, mừng như mở cờ trong bụng, vội vã cùng vợ may một chiếc túi to thật là to. Hôm sau chim tới đưa người anh đi lấy vàng ở hòn đảo xa lạ nọ. Nhìn thấy vàng bạc châu báu trên đảo, người anh vội vàng nhét đầy túi to, lại còn giắt khắp người. Khi người anh leo lên lưng chim, chim phải vỗ cánh mấy lần mới bay lên được. Vì quá nặng nên chim bay chậm, mãi vẫn ở trên biển. Chim bảo người anh vứt bớt vàng bạc đi nhưng anh ta không chịu. Chim nặng quá, nghiêng cánh, thế là người anh tham lam cùng túi vàng rơi xuống biển sâu, không bao giờ trở về được nữa.
Kể lại truyện cổ tích: Cây tre trăm đốt
Tham khảo thêm:
Kể lại một truyện cổ tích: Sọ Dừa
Tham khảo thêm:
Kể chuyện Sự tích hồ Ba Bể
Tham khảo thêm:
Kể lại câu chuyện Ba lưỡi rìu
Tham khảo thêm:
Kể lại chuyện cây khế bằng lời văn của em lớp 6
Tham khảo thêm:
Mời các em học sinh truy cập group Bạn Đã Học Bài Chưa? để đặt câu hỏi và chia sẻ những kiến thức học tập chất lượng nhé. Group là cơ hội để các bạn học sinh trên mọi miền đất nước cùng giao lưu, trao đổi học tập, kết bạn, hướng dẫn nhau kinh nghiệm học,...
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Lớp 6 > Học tập của HoaTieu.vn.
-
Chia sẻ:
Jenifer Hoang
- Ngày:
Kể lại một truyền thuyết lớp 6 siêu hay
369,4 KB 27/01/2026 5:07:00 CHNhiều người quan tâm
Tham khảo thêm
Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:
-
nguyen hanThích · Phản hồi · 3 · 20/04/22 -
Nguyễn Hào KiệtThích · Phản hồi · 3 · 12/03/23-
Ban Quản Trị HoaTieu.vnThích · Phản hồi · 3 · 13/03/23 -
tham leThích · Phản hồi · 0 · 15/02/24
-
-
Nguyễn Hào KiệtThích · Phản hồi · 1 · 12/03/23 -
Phương Lưu Hồng MaiThích · Phản hồi · 2 · 28/04/23 -
Đình TrọngThích · Phản hồi · 2 · 17/10/23 -
thanh trương thị kimThích · Phản hồi · 3 · 26/01/24
-
lien chienThích · Phản hồi · 1 · 29/01/24
-
lien chienThích · Phản hồi · 1 · 29/01/24
-
-
ngoc bich nguyenThích · Phản hồi · 2 · 01/02/24
-
trần nhã phươngThích · Phản hồi · 0 · 09/11/24 -
trần nhã phươngThích · Phản hồi · 1 · 09/11/24
Ngữ văn 6 Kết nối tri thức tải nhiều
Học tập tải nhiều
-
Đọc bài thơ về tình yêu thương giữa con người với con người hoặc giữa con người với loài vật
-
Bài tập Tết Tiểu học 2026 - Đầy đủ 5 lớp 1, 2, 3, 4, 5
-
Bài tập Tết lớp 4 năm 2026
-
Bài tập Tết lớp 4 môn Tiếng Việt 2026
-
Bài tập Tết lớp 4 môn Toán 2026
-
Bài tập Tết lớp 4 môn Tiếng Anh 2026
-
Bài tập Tết lớp 3 năm 2026
-
Bài tập Tết lớp 3 môn Tiếng Anh 2026 (Có đáp án)
-
Top 8 bài phân tích Đoàn thuyền đánh cá hay nhất
-
Đề rèn cuối bài học Toán 11 Bài Ôn tập Chương 6 (Có đáp án)
Bài viết hay Ngữ văn 6 Kết nối tri thức
-
Viết đoạn văn (5-7 câu) với nhan đề Gửi tác giả truyện Cô bé bán diêm
-
(Mẫu chuẩn) Truyện Thạch Sanh có nhiều đồ vật kỳ ảo. Hãy kể tên các đồ vật đó và nêu đặc điểm tác dụng của chúng
-
Cảm nhận về tình yêu của tác giả đối với dòng Mê Kong lớp 6 (3 mẫu)
-
Viết đoạn văn 5 - 7 câu về chủ đề Để hành tinh xanh mãi xanh
-
Trình bày suy nghĩ về tình cảm của con người với quê hương (14 mẫu)
-
Viết đoạn văn về một cảnh đẹp thiên nhiên có sử dụng biện pháp tu từ so sánh hoặc ẩn dụ (6 mẫu)