Giá trị pháp lý của văn bản cam kết của vợ chồng trước khi ly hôn

Trước khi ly hôn các bên có quyền đưa ra các bản thỏa thuận, cam kết phù hợp với quy định của pháp luật về phân chia tài sản, quyền thăm nuôi con theo quy định của pháp luật. Vậy giá trị pháp lý của văn bản cam kết của vợ chồng trước khi ly hôn như thế nào?

Cam kết tài sản riêng của chồng/vợ

Hỏi: 

Dạ cho em xin hỏi về vấn đề ly hôn. Hiện tại ba mẹ em đang có mâu thuẫn trong gia đình, vì 1 trong 2 người đã có lỗi đối với gia đình (Vì chơi bời nên dẫn đến vấn đề về tài chính và tình cảm gia đình trở nên khó khăn, lục đục). Hiện tại, người kia (bên A) đã tha thứ cho người có lỗi (bên B) và cho cơ hội để sửa chữa nhưng mà do đã quá nhiều lỗi lầm nên bên A muốn làm một số thủ tục giấy viết tay: bên A yêu cầu bên B phải viết bản cam kết sẽ đồng thuận ly hôn êm đẹp, không có tranh chấp bất kì tài sản gì và hai người con sẽ do bên B trực tiếp nuôi dưỡng hậu ly hôn, vấn đề là vì đây là giấy viết tay không có biểu mẫu cụ thể hay người làm chứng xác thực thì nếu nộp đơn ly hôn thì bên B đưa lên tòa tờ giấy cam kết đấy có được giải quyết như lời bên A đã cam kết hay không. Em cảm ơn.

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý về văn bản cam kết trước khi ly hôn

2. Nội dung tư vấn về văn bản cam kết trước khi ly hôn

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thấy tình trạng hôn nhân diễn ra không được như mong muốn, hạnh phúc gia đình không đảm bảo mỗi bên, tình trạng chung sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài thì một trong hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.1 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các chủ thể sau có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Dựa vào căn cứ pháp lý trên, vợ, chồng là những người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu trong trường hợp, vợ, chồng mắc bệnh tâm thần đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng của họ gây ra.

2.2 Phân loại chế độ ly hôn

Chế độ ly hôn được pháp luật quy định như sau:

2.2.1 Thuận tình ly hôn

Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Đây là chế độ thuận tình ly hôn được pháp luật quy định. Tại đây, khi Tòa án thụ lý đơn thuận tình ly hôn, nếu xét thấy trong quá trình giải quyết, cả vợ và chồng đều có sự tự nguyện, việc phân chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con được đảm bảo một cách đầy đủ, phù hợp theo quy định của pháp luật thì Tòa án tiến hành giải quyết, công nhận thuận tình ly hôn. Trong trường hợp, vợ chồng đều thuận tình ly hôn, nhưng vấn đề về phân chia tài sản không thỏa thuận được, hoặc thỏa thuận bị vô hiệu, xảy ra tranh chấp thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết theo ly hôn đơn phương.

2.2.2 Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi mình là nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc một bên đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ, chồng dẫn đến đời sống hôn nhân không thể đảm bảo.

2.3 Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình….

2.4 Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con.

Chế độ tài sản của vợ, chồng, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con được pháp luật quy định như sau.

2.4.1 Văn bản cam kết về tài sản, quyền nuôi dưỡng trước khi ly hôn có giá trị pháp lý khi nào?

Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi sẽ giải đáp dựa trên những thông tin mà bạn đưa ra. Bên A và bên B đã thỏa thuận bản cam kết và yêu cầu bên B viết bản cam kết sẽ đồng thuận ly hôn êm đẹp, không có tranh chấp bất kì tài sản gì và hai người con sẽ do bên B trực tiếp nuôi dưỡng hậu ly hôn. Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình chưa quy định về việc xác lập bản cam kết của vợ và chồng để căn cứ về việc ly hôn thuận tình. Nếu trường hợp việc thỏa thuận này cũng là ý chí mong muốn tại thời điểm ly hôn của hai bên thì có thể yêu cầu tòa công nhận thỏa thuận này, và đây được coi là thỏa thuận của hai bên khi ly hôn thuận tình.

Việc thỏa thuận về chia tài sản, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con phải được ghi tại biên bản hòa giải tại Tòa.

Điều 397. Hòa giải và công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

….4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;

b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.

5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định.

2.4.2 Thỏa thuận về quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con.

Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau

“….2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Tuy nhiên, đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa sẽ xem xét đến nguyện vọng của đứa bé muốn được ở với bố hoặc mẹ.

KẾT LUẬN: Theo các căn cứ pháp lý trên, bản cam kết giữa A và B có thể sẽ được Tòa án xem xét các yếu tố về phân chia tài sản, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm nhu cầu của con. Nếu thấy bản cam kết phù hợp theo quy định của pháp luật, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết theo yêu cầu của các bên. Trong trường hợp bản cam kết trên không phù hợp theo quy định, Tòa án sẽ không công nhận.

Mời các bạn tham khảo thêm các bài viết khác trong mục Dân sự của phần Hỏi đáp pháp luật.

Đánh giá bài viết
1 12
0 Bình luận
Sắp xếp theo