F0, F1 cách ly tại nhà có phải khai báo y tế?

Sau kì nghỉ Tết nguyên đán 2022, tình hình dịch bệnh Covid19 tại một số tỉnh thành trên toàn quốc vẫn có những diễn biến phức tạp. Do số lượng ca nhiễm mới tăng cao nên nhiều tỉnh thành đã thực hiện cách ly và điều trị các F0 nhẹ, không triệu chứng tại nhà. Vậy  F0, F1 cách ly tại nhà có phải khai báo y tế? Sau đây là nội dung chi tiết, mời các bạn cùng theo dõi.

Hiện nay có nhiều F0 tự điều trị tại nhà nhưng lại không khai báo y tế với cơ quan chức năng. Việc làm này vô hình chung khiến người bệnh mất đi quyền lợi hợp pháp và có thể bị xử phạt hành chính. Cụ thể như sau:

1. Không khai báo y tế, mất tiền trợ cấp của chế độ ốm đau

Theo khoản 1 Điều 100 của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, để được hưởng chế độ ốm đau, người lao động điều trị bệnh tại nhà phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (BHXH). Trong khi đó, theo điểm a khoản 1 Điều 20 của Thông tư 56/2017/TT-BYT, Giấy này do cơ sở khám, chữa bệnh đã dược cấp giấy phép hoạt động cấp.

Hiện nay, chưa có hướng dẫn thống nhất nào về việc trường hợp F0 điều trị tại nhà thì xin Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH ở đâu? Do ai cấp? mà mỗi địa phương lại có hướng dẫn khác nhau.

TP. Hồ Chí Minh đã có hướng dẫn tại Công văn 9000/SYT-NVY như sau: Trung tâm y tế quận, huyện, thành phố Thủ Đức, Trạm y tế phường, xã, thị trấn chăm sóc và quản lý F0 tại nhà sẽ cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH.

Thế nhưng, một số địa phương khác, Trạm Y tế chỉ cấp Giấy xác nhận hoàn thành thời gian cách ly, điều trị người nhiễm Covid-19 tại nhà, sau đó người lao động cần nộp Giấy này cho Trung tâm y tế huyện để cấp Giấy xác nhận nghỉ việc hưởng BHXH.

Khi đã có được Giấy xác nhận nghỉ việc hưởng BHXH, người lao động nộp lại cho công ty để làm thủ tục hưởng chế độ ốm đau với mức hưởng bằng 75% mức đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Như vậy, trong mọi trường hợp, F0 điều trị tại nhà vẫn cần phải khai báo với Trạm y tế để có được Giấy xác nhận hoàn thành điều trị Covid-19/Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH và hưởng tiền trợ cấp ốm đau theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Nếu không khai báo, người lao động sẽ không được cấp Giấy và sẽ đánh mất quyền lợi này. Ngoài ra, việc khai báo với Trạm y tế cũng là cần thiết để người dân được hướng dẫn về cách thức cách ly, điều trị.

2. F0 không khai báo y tế bị phạt đến 20 triệu đồng

Không chỉ bị mất khoản tiền trợ cấp theo chế độ ốm đau, F0 điều trị tại nhà không khai báo y tế còn phải đối mặt với nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 117/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, người có hành vi “che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mặc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A” sẽ bị xử phạt từ 10 - 20 triệu đồng.

Trong khi đó, theo Quyết định 219/QĐ-BYT của Bộ Y tế, Covid-19 đã được liệt kê là một trong những bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A.

Như vậy, người nhiễm Covid-19 che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời tình trạng bệnh với Trạm y tế nơi đang sinh sống sẽ bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng.

Tóm lại, việc khai báo đối với Trạm y tế xã, phường, thị trấn nơi đang sinh sống và điều trị là quyền lợi và nghĩa vụ bắt buộc đối với F0. F0 không khai báo với Trạm y tế sẽ bị mất tiền trợ cấp BHXH và còn có thể bị phạt. Ngoài ra, nếu như khai báo với Trạm y tế, F0 còn được tư vấn, hỗ trợ thuốc và hướng dẫn cách thức điều trị kịp thời và hiệu quả.

3. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm lây lan dịch bệnh

Căn cứ theo quy định tại Điều 240 Bộ luật hình sự, tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người như sau:

“Điều 240. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế;

b) Làm chết người.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm:

a) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

b) Làm chết 02 người trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.“

Như vậy, hành vi lây lan dịch bệnh cho người khác là một trong những hành vi rất nguy hiểm cho cộng đồng. Do đó, trường hợp làm lây lan dịch bệnh hình phạt tù cao nhất có thể là 12 năm tù giam.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Phổ biến pháp luật của HoaTieu.vn.

Đánh giá bài viết
1 543
0 Bình luận
Sắp xếp theo